Ninh Bình xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Đề án được xây dựng trong
bối cảnh giai đoạn 2026 - 2030 là thời kỳ Ninh Bình hoạt động theo mô hình
chính quyền địa phương hai cấp sau khi hợp nhất ba tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và
Nam Định. Đây cũng là giai đoạn tỉnh đặt mục tiêu tăng tốc, bứt phá, phấn đấu đến
năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, giữ vai trò trung tâm du lịch
quốc gia, quốc tế và trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo đánh giá trong Đề
án, sau hợp nhất, hệ thống giáo dục của tỉnh có quy mô lớn, đa dạng về loại
hình. Đến tháng 4/2026, toàn tỉnh có 1.455 trường mầm non, phổ thông, trung tâm
giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên; 448 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm
non độc lập tư thục; tổng số 28.582 lớp với 956.740 trẻ mầm non, học sinh phổ
thông và học viên giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông.
Toàn tỉnh hiện có 129
trung tâm học tập cộng đồng xã, phường; 243 trung tâm ngoại ngữ; 16 trung tâm
ngoại ngữ - tin học; 38 trung tâm giáo dục kỹ năng sống; 16 trung tâm hỗ trợ
phát triển giáo dục hòa nhập và 78 đơn vị kinh doanh dịch vụ tư vấn du học. Đối
với giáo dục nghề nghiệp, toàn tỉnh có 34 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó
có 13 trường cao đẳng, 9 trường trung cấp, 9 trung tâm và 3 cơ sở tham gia hoạt
động giáo dục nghề nghiệp. Đối với giáo dục đại học, trên địa bàn tỉnh có 5 trường
đại học và 3 phân hiệu của các trường đại học.
Đội ngũ cán bộ quản lý,
giáo viên, nhân viên mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên toàn ngành hiện
có 58.260 người. Tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở các
cấp học đều ở mức cao; trong đó cấp THPT đạt 100%, mầm non đạt 99,3%, THCS đạt
96,2% và tiểu học đạt 90,5%.
Về cơ sở vật chất, toàn tỉnh
có 27.263 phòng học các cấp, tỷ lệ kiên cố đạt 98,83%; có 7.550 phòng học bộ
môn và 495 nhà đa năng. Tỷ lệ trường mầm non, phổ thông công lập đạt chuẩn quốc
gia trên địa bàn tỉnh đạt 95%, cao hơn mức bình quân chung cả nước.
Chất lượng giáo dục toàn
diện và giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định. Năm 2025, tại Kỳ thi tốt
nghiệp THPT, tỉnh xếp thứ 3 toàn quốc về điểm trung bình, dẫn đầu cả nước ở 3
môn Toán, Tin học, Địa lí; có 1 thủ khoa toàn quốc khối A00, 1 thủ khoa toàn quốc
4 môn và 1.045 bài thi đạt điểm 10. Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm
học 2025 - 2026, tỉnh có 238 học sinh đạt giải, xếp thứ 2 toàn quốc về tổng số
lượng giải.
Bên cạnh kết quả đạt được,
Đề án cũng chỉ ra một số khó khăn, hạn chế như hệ thống trường lớp còn chênh lệch
giữa các khu vực; một số địa bàn đô thị hóa nhanh chịu áp lực lớn về hạ tầng
giáo dục; nhiều trường còn thiếu phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện, khu
thể thao, nhà đa năng; một số cơ sở giáo dục chưa đáp ứng tiêu chí trường đạt
chuẩn quốc gia. Đội ngũ giáo viên vẫn còn thiếu ở một số môn học như Tin học,
Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mỹ thuật và các môn tích hợp theo Chương trình giáo dục phổ
thông 2018.
Trên cơ sở đánh giá thực
trạng, Đề án đặt mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Ninh Bình theo hướng
đồng bộ, hiện đại, hội nhập và bền vững; phát huy truyền thống hiếu học, nâng
cao chỉ số phát triển con người, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với thị trường lao động.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu
tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho
trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục THCS mức độ
3, xóa mù chữ mức độ 2; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến
5 tuổi. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở cấp tiểu học và THCS đạt 99,9%; tỷ lệ học
sinh tốt nghiệp THPT hằng năm đạt từ 99% trở lên.
Ninh Bình phấn đấu duy
trì trong nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về chất lượng thi tốt nghiệp
THPT và nhóm 7 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng hoặc tỷ lệ đạt giải
thi chọn học sinh giỏi quốc gia. Tỉnh cũng đặt mục tiêu hằng năm có học sinh đạt
giải quốc tế hoặc khu vực châu Á; chất lượng giáo dục phổ thông tiếp cận trình
độ tiên tiến trong khu vực châu Á.
Trong lĩnh vực giáo dục
nghề nghiệp, tỉnh phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 82% trở lên, trong
đó 40% có trình độ cao đẳng, trung cấp, trung học nghề trở lên; trên 85% học
viên tốt nghiệp có việc làm đúng nghề. Cùng với đó, trên 90% xã, phường được
công nhận cộng đồng học tập cấp xã và tỉnh Ninh Bình được công nhận đạt cộng đồng
học tập cấp tỉnh.
Về đội ngũ, Đề án đặt mục
tiêu 100% giáo viên các cấp có trình độ đào tạo đạt chuẩn; phấn đấu tỷ lệ giáo
viên có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt 33%. Đối với giáo dục đại học, ít nhất
40% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Đối với giáo dục nghề nghiệp, 100% giảng
viên, giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo; 30% có trình độ sau đại học và 80%
được bồi dưỡng về chuyển đổi số, công nghệ mới, phương pháp dạy học hiện đại.
Về cơ sở hạ tầng, tỉnh phấn
đấu đến năm 2030 tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%; tỷ lệ trường học có nhà đa
năng đạt 83%; tỷ lệ trường mầm non, phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia ở các
cấp học tiếp tục được nâng cao, trong đó THCS và THPT phấn đấu đạt 100%. Tỉnh
cũng đặt mục tiêu xây dựng Khu đại học Nam Cao thành trung tâm đào tạo, nghiên
cứu, đổi mới sáng tạo tầm quốc gia, khu vực; thu hút thêm 3 - 5 trường đại học
đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh.
Chuyển đổi số được xác định
là khâu đột phá. Tỉnh phấn đấu mỗi năm đầu tư xây dựng khoảng 60 trường học đạt
chuẩn theo mô hình trường học số; 90% cơ sở giáo dục đạt mức độ chuyển đổi số ở
mức độ 3, các cơ sở còn lại đạt mức độ 2. Đồng thời, 100% cơ sở giáo dục phổ
thông và giáo dục nghề nghiệp triển khai nội dung giáo dục khởi nghiệp, đổi mới
sáng tạo phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo.
Tầm nhìn đến năm 2045,
Ninh Bình đặt mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục chất lượng cao của vùng Đồng
bằng sông Hồng, đạt trình độ tiên tiến khu vực và quốc tế. Tỉnh phấn đấu 100% học
sinh tốt nghiệp THPT có đủ năng lực số, năng lực tiếng Anh và kỹ năng làm việc
trong môi trường toàn cầu; tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học;
mỗi cấp học có ít nhất một trường có cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục theo
chuẩn quốc tế.
Để đạt các mục tiêu trên,
Đề án đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có xây dựng cơ chế,
chính sách đặc thù, ưu tiên cho phát triển giáo dục và đào tạo; đổi mới quản lý
giáo dục và quản trị nhà trường; quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục
đáp ứng nhu cầu học tập của người dân.
Tỉnh sẽ rà soát, sắp xếp
lại các trường mầm non, tiểu học, THCS có quy mô nhỏ trên cùng địa bàn; điều chỉnh
quy mô lớp học, điểm trường theo nguyên tắc thuận lợi cho người dân và phù hợp
với điều kiện thực tế. Đồng thời, bảo đảm quỹ đất để xây dựng, mở rộng các cơ sở
giáo dục; ưu tiên bố trí trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sáp nhập cho các cơ
sở giáo dục.
Đề án cũng nhấn mạnh việc
đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra và đánh giá; đẩy mạnh
giáo dục STEM, STEAM, nghiên cứu khoa học, giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học
sinh; phát triển văn hóa đọc, thư viện trường học và mô hình trường học “Xanh -
Sạch - Đẹp - An toàn - Hạnh phúc”.
Một nhiệm vụ quan trọng
khác là phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tỉnh sẽ xây dựng
Đề án phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời đổi mới chính sách tuyển dụng,
bồi dưỡng, đãi ngộ và thu hút giáo viên giỏi, đặc biệt là giáo viên cho các trường
chuyên.
Về nguồn lực, tỉnh định
hướng bố trí ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo bảo đảm tối thiểu
23% tổng chi ngân sách, cao hơn mức trung bình cả nước. Ngân sách sẽ ưu tiên
cho giáo dục bắt buộc, phổ cập, miễn học phí, dạy học 2 buổi/ngày, các nhiệm vụ
trọng điểm, chương trình mục tiêu và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn.
Đề án cũng đặt ra yêu cầu
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục; xây dựng
hệ thống giáo dục thông minh, trung tâm điều hành giáo dục tập trung, mô hình
trường học thông minh, lớp học thông minh; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,
điện toán đám mây và các công nghệ số trong dạy học, quản lý, kiểm tra, đánh
giá.
Song song với đó, tỉnh sẽ
thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp trong học sinh,
sinh viên; tăng cường hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và viện nghiên cứu;
đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giáo dục, mở rộng trao đổi học sinh, sinh viên,
hợp tác đào tạo với các nước có nền giáo dục tiên tiến.
UBND tỉnh giao Sở Giáo dục
và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các xã, phường tổ chức
quán triệt và triển khai thực hiện Đề án; tham mưu sắp xếp tinh gọn bộ máy, tổ
chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập ngành Giáo dục; điều chỉnh quy hoạch mạng
lưới cơ sở giáo dục, đổi mới công tác tuyển dụng giáo viên và theo dõi, tổng hợp
kết quả thực hiện.
Các sở, ngành, địa
phương, trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các cơ sở giáo dục trên địa bàn
tỉnh được phân công nhiệm vụ cụ thể theo chức năng, lĩnh vực quản lý. Hằng năm,
trước ngày 15/12, các đơn vị báo cáo kết quả thực hiện Đề án gửi Sở Giáo dục và
Đào tạo để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh.
Việc xây dựng và triển
khai Đề án “Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Ninh Bình đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045” được kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản, toàn diện về
chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thực hiện
mục tiêu đưa Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030
và trung tâm giáo dục chất lượng cao của vùng trong những thập niên tới.