image
Sở Khoa học và Công nghệ triển khai Đề án dữ liệu dân cư, định danh điện tử giai đoạn 2026 - 2030
Lượt xem: 92
Ngày 03/8/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình ban hành Kế hoạch số 110/KH-SKHCN triển khai thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035, cụ thể hóa Kế hoạch số 256/KH-UBND ngày 24/7/2026 của UBND tỉnh trong phạm vi chức năng của Sở.
anh tin bai

Kế hoạch kế thừa các kết quả đạt được từ Đề án 06 giai đoạn 2022 - 2025, khắc phục những tồn tại, hạn chế, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử trong hoạt động của ngành khoa học và công nghệ tỉnh. Sở lấy đó làm cơ sở tổ chức triển khai đồng bộ các chỉ tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với dữ liệu dân cư, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số.

Kế hoạch đổi mới phương thức quản trị theo sản phẩm đầu ra, mức độ sử dụng thực tế và giá trị mang lại, hướng tới giảm thao tác thủ công, giấy tờ, thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Mọi nhiệm vụ đầu tư, thuê dịch vụ, nâng cấp hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu đều tuân thủ Khung kiến trúc số tỉnh Ninh Bình theo Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 06/02/2026, ưu tiên hợp nhất các hệ thống, cơ sở dữ liệu trùng lặp do 03 tỉnh (cũ) để lại và khai thác tối đa nền tảng dùng chung của Trung ương, của tỉnh, không đầu tư trùng lặp.

Giai đoạn 2026 - 2030, Sở tập trung vào 05 nhóm mục tiêu theo phạm vi chức năng: cơ bản hoàn thành Mô hình Chuyển đổi số cấp xã; xây dựng, phát triển các hệ thống thông tin, nền tảng dùng chung xuyên suốt, thống nhất từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị công nghệ thông tin, hệ thống mạng LAN tại các cơ quan, đơn vị bảo đảm đồng bộ; kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành để giải quyết thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, hình thành dịch vụ công trực tuyến chủ động; và phát triển Tổ Công nghệ số cộng đồng thành lực lượng tiên phong hỗ trợ, hướng dẫn người dân tiếp cận, sử dụng công nghệ số.

Văn phòng Sở chủ trì cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, rà soát, đơn giản hóa và tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính, đồng thời giải quyết thủ tục theo mô hình tập trung trên Hệ thống của Bộ Khoa học và Công nghệ. Phòng Chuyển đổi số điều phối phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, quản trị các hệ thống thông tin và nền tảng số dùng chung của tỉnh, tham mưu giải pháp phát triển Mô hình Chuyển đổi số cấp xã với Tổ Công nghệ số cộng đồng làm nòng cốt tại thôn, tổ dân phố, đồng thời áp dụng Khung đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số hằng năm cho các sở, ban, ngành, địa phương. Phòng Khoa học hướng dẫn đề xuất các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo gắn với công nghệ số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phối hợp Công an tỉnh thực hiện nghiên cứu, chuyển giao công nghệ liên quan đến dữ liệu dân cư, định danh điện tử.

Phòng Hạ tầng Khoa học công nghệ - Thông tin phát triển hạ tầng băng thông rộng, phủ sóng mạng 5G tới các khu công nghiệp, khu du lịch trọng điểm, đẩy nhanh phổ cập cáp quang đến từng hộ gia đình, đồng thời mở rộng WiFi công cộng tại khu vực đông dân cư, bệnh viện, trường học, di tích lịch sử và làng nghề truyền thống. Trung tâm Khoa học công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tích hợp, dịch chuyển các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành đang phân tán về Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh, thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, tổ chức đào tạo kỹ năng số cho cán bộ chuyên trách và triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" hướng dẫn kỹ năng số cơ bản cho người dân, nông dân và các nhóm yếu thế tại cộng đồng.

Tầm nhìn đến năm 2035, mọi giao dịch giữa người dân và chính quyền được thực hiện trên môi trường số. Các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, với dữ liệu dân cư làm hạt nhân, được kết nối, chia sẻ và sử dụng hiệu quả để xây dựng chính quyền thông minh, cho phép ra quyết định dựa trên dữ liệu thời gian thực. Người dân được thụ hưởng các dịch vụ số cá nhân hóa, tự động, thuận tiện theo từng sự kiện cuộc đời, trong khi văn hóa số và kỹ năng số được phổ cập trong toàn xã hội.

Xem toàn văn Kế hoạch số 110/KH-SKHCN tại đây.

Trịnh Tùng
  • Từ khóa :