Phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 - 2030
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước hồ chứa, phát triển
sản xuất hàng hóa và nâng cao giá trị, ngày 02/3/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Môi trường đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án phát triển
nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 - 2030. Đây là chủ trương, định hướng
chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ khai thác
sang nuôi trồng, tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc
biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng nông thôn, miền núi, gắn với bảo đảm an
sinh xã hội và an ninh quốc phòng.

ảnh minh họa
Mục tiêu đạt 16.000 tỷ đồng giá trị sản xuất Đề án đặt ra những
mục tiêu cụ thể, mang tính đột phá đến năm 2030. Về khía cạnh kinh tế, sản lượng
nuôi trồng thủy sản hồ chứa trên toàn quốc phấn đấu đạt trên 260.000 tấn/năm.
Trong đó, sản lượng nuôi lồng bè chiếm tỷ trọng chủ đạo với trên 190.000 tấn/năm
và nuôi thả trực tiếp đạt trên 70.000 tấn/năm. Tổng giá trị sản xuất từ lĩnh vực
này được kỳ vọng sẽ mang lại khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi năm.
Về mặt xã hội và tổ chức sản xuất, văn bản định hướng trên
50% cơ sở, hộ nuôi tại các hồ chứa sẽ tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc
chuỗi liên kết giá trị. Đặc biệt, ngành thủy sản hồ chứa sẽ trực tiếp tạo việc
làm ổn định cho hơn 80.000 lao động. Mục tiêu đặt ra là giúp mức thu nhập bình
quân của người lao động tăng trên 50% so với năm 2025; trong đó, tỷ lệ lao động
là đồng bào dân tộc thiểu số đạt trên 30%. Về tiêu chuẩn môi trường và quản lý,
phấn đấu có trên 5% cơ sở áp dụng quy trình thực hành nuôi tốt (VietGAP hoặc
tương đương) hoặc sử dụng vật liệu lồng bè thân thiện với môi trường, đồng thời
100% cơ sở được số hóa, cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia.
Để hiện thực hóa các
chỉ tiêu trên, văn bản chỉ đạo vạch ra hệ thống nhiệm vụ toàn diện. Trước hết
là phát triển các hình thức nuôi phù hợp với sinh thái từng hồ; trong đó, ưu
tiên hình thành các vùng nuôi lồng bè tập trung bảo đảm sức chịu tải môi trường
và phát triển nuôi thả trực tiếp các loài bản địa, đặc sản nhằm bảo vệ đa dạng
sinh học. Tiếp đó, hình thành mạng lưới cung ứng giống, vật tư, thức ăn tại chỗ
gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường.
Công tác đầu tư nâng cấp hạ tầng thiết yếu như bến cá, kho lạnh
và hệ thống giao thông thủy bộ kết nối vùng nuôi cũng được đặc biệt chú trọng.
Về thương mại, Đề án yêu cầu xây dựng thương hiệu sản phẩm đạt chuẩn OCOP,
GlobalGAP, ASC, đồng thời đăng ký nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Các giải pháp trọng
tâm bao gồm hoàn thiện cơ chế, lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu
quốc gia, đẩy mạnh ứng dụng vật liệu mới (HDPE, Composite), chuyển đổi số (GIS,
IoT, Big Data) và kiểm soát chặt chẽ sức chịu tải của môi trường.
Đề án đi kèm danh mục các dự án ưu tiên với sự kết hợp linh
hoạt giữa nguồn vốn ngân sách Trung ương và xã hội hóa. Các dự án đáng chú ý
bao gồm: xây dựng 3 mô hình nuôi cá lồng ứng dụng công nghệ cao; triển khai mô
hình nuôi quy mô công nghiệp tại 3 hồ chứa lớn có diện tích trên 5.000 ha; và
thực hiện 6 mô hình chuyển đổi nghề cho người dân khai thác mang tính hủy diệt
sang nuôi trồng bền vững, bảo đảm trên 70% người tham gia là đồng bào dân tộc
thiểu số.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư là cơ quan chủ trì tham mưu, hướng
dẫn và đôn đốc toàn diện. Ở cấp địa phương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có hồ chứa chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc phân vùng khu vực
nuôi phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước. Hơn thế nữa, UBND các cấp cần lồng
ghép nguồn lực, ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu
tư hạ tầng, kết hợp phát triển du lịch sinh thái và xử lý nghiêm mọi hành vi vi
phạm, góp phần kiến tạo môi trường phát triển thủy sản hồ chứa minh bạch, an
toàn và bền vững.
Xem Quyết định số 707/QĐ-BNNMT tại đây.