image
Phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 - 2030
Lượt xem: 24

Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước hồ chứa, phát triển sản xuất hàng hóa và nâng cao giá trị, ngày 02/3/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026 - 2030. Đây là chủ trương, định hướng chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ khai thác sang nuôi trồng, tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng nông thôn, miền núi, gắn với bảo đảm an sinh xã hội và an ninh quốc phòng.

anh tin bai

ảnh minh họa

Mục tiêu đạt 16.000 tỷ đồng giá trị sản xuất Đề án đặt ra những mục tiêu cụ thể, mang tính đột phá đến năm 2030. Về khía cạnh kinh tế, sản lượng nuôi trồng thủy sản hồ chứa trên toàn quốc phấn đấu đạt trên 260.000 tấn/năm. Trong đó, sản lượng nuôi lồng bè chiếm tỷ trọng chủ đạo với trên 190.000 tấn/năm và nuôi thả trực tiếp đạt trên 70.000 tấn/năm. Tổng giá trị sản xuất từ lĩnh vực này được kỳ vọng sẽ mang lại khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi năm.

Về mặt xã hội và tổ chức sản xuất, văn bản định hướng trên 50% cơ sở, hộ nuôi tại các hồ chứa sẽ tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết giá trị. Đặc biệt, ngành thủy sản hồ chứa sẽ trực tiếp tạo việc làm ổn định cho hơn 80.000 lao động. Mục tiêu đặt ra là giúp mức thu nhập bình quân của người lao động tăng trên 50% so với năm 2025; trong đó, tỷ lệ lao động là đồng bào dân tộc thiểu số đạt trên 30%. Về tiêu chuẩn môi trường và quản lý, phấn đấu có trên 5% cơ sở áp dụng quy trình thực hành nuôi tốt (VietGAP hoặc tương đương) hoặc sử dụng vật liệu lồng bè thân thiện với môi trường, đồng thời 100% cơ sở được số hóa, cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia.

Để hiện thực hóa các chỉ tiêu trên, văn bản chỉ đạo vạch ra hệ thống nhiệm vụ toàn diện. Trước hết là phát triển các hình thức nuôi phù hợp với sinh thái từng hồ; trong đó, ưu tiên hình thành các vùng nuôi lồng bè tập trung bảo đảm sức chịu tải môi trường và phát triển nuôi thả trực tiếp các loài bản địa, đặc sản nhằm bảo vệ đa dạng sinh học. Tiếp đó, hình thành mạng lưới cung ứng giống, vật tư, thức ăn tại chỗ gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường.

Công tác đầu tư nâng cấp hạ tầng thiết yếu như bến cá, kho lạnh và hệ thống giao thông thủy bộ kết nối vùng nuôi cũng được đặc biệt chú trọng. Về thương mại, Đề án yêu cầu xây dựng thương hiệu sản phẩm đạt chuẩn OCOP, GlobalGAP, ASC, đồng thời đăng ký nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Các giải pháp trọng tâm bao gồm hoàn thiện cơ chế, lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh ứng dụng vật liệu mới (HDPE, Composite), chuyển đổi số (GIS, IoT, Big Data) và kiểm soát chặt chẽ sức chịu tải của môi trường.

Đề án đi kèm danh mục các dự án ưu tiên với sự kết hợp linh hoạt giữa nguồn vốn ngân sách Trung ương và xã hội hóa. Các dự án đáng chú ý bao gồm: xây dựng 3 mô hình nuôi cá lồng ứng dụng công nghệ cao; triển khai mô hình nuôi quy mô công nghiệp tại 3 hồ chứa lớn có diện tích trên 5.000 ha; và thực hiện 6 mô hình chuyển đổi nghề cho người dân khai thác mang tính hủy diệt sang nuôi trồng bền vững, bảo đảm trên 70% người tham gia là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư là cơ quan chủ trì tham mưu, hướng dẫn và đôn đốc toàn diện. Ở cấp địa phương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hồ chứa chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc phân vùng khu vực nuôi phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước. Hơn thế nữa, UBND các cấp cần lồng ghép nguồn lực, ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư hạ tầng, kết hợp phát triển du lịch sinh thái và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, góp phần kiến tạo môi trường phát triển thủy sản hồ chứa minh bạch, an toàn và bền vững.

Xem Quyết định số 707/QĐ-BNNMT tại đây.

Tin, ảnh An Na
  • Từ khóa :
1 2 3 4 5  ...