image
Hoàn thiện hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam: Bước đi chiến lược trong quản trị lâm sản
Lượt xem: 11

Trong bối cảnh yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và tính hợp pháp của gỗ ngày càng trở nên khắt khe trên thị trường quốc tế, việc hợp nhất các quy định về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS) là một bước đi thiết yếu. Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-BNNMT đã chính thức hệ thống hóa các quy định từ Nghị định gốc số 102/2020/NĐ-CP cùng các Nghị định sửa đổi, bổ sung số 120/2024/NĐ-CP và số 42/2026/NĐ-CP, tạo nên một khung pháp lý thống nhất, minh bạch và hiện đại cho ngành gỗ Việt Nam.

anh tin bai

Tính thống nhất và tính kế thừa của văn bản pháp luật

Điểm nhấn quan trọng nhất của văn bản hợp nhất lần này là sự tích hợp nhịp nhàng các quy định mới nhằm thích ứng với sự thay đổi của bộ máy quản lý nhà nước. Đáng chú ý, các thuật ngữ và thẩm quyền ban hành đã được cập nhật đồng bộ: cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” trong các quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản nay được thay thế bằng “Bộ Nông nghiệp và Môi trường”. Sự thay đổi này không chỉ là hình thức mà còn phản ánh tư duy quản lý tích hợp giữa phát triển kinh tế lâm nghiệp và bảo vệ môi trường bền vững.

Kiểm soát chặt chẽ gỗ nhập khẩu và gỗ xuất khẩu

Hệ thống VNTLAS quy định chi tiết quy trình phân loại rủi ro đối với gỗ nhập khẩu. Theo đó, gỗ nhập khẩu vào Việt Nam được quản lý dựa trên các tiêu chí về vùng địa lý tích cực và loại gỗ rủi ro thấp. Đối với những lô hàng không thuộc danh mục ưu tiên, doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp bổ sung về hồ sơ và giải trình nguồn gốc để đảm bảo không có gỗ bất hợp pháp xâm nhập vào chuỗi cung ứng.

Ở chiều xuất khẩu, văn bản hợp nhất nhấn mạnh việc cấp giấy phép FLEGT và giấy phép CITES. Đây là “giấy thông hành” quan trọng để gỗ Việt Nam tiếp cận các thị trường khó tính như Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản. Quy trình cấp phép được minh bạch hóa, giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ quan quản lý.

Phân loại doanh nghiệp: Khuyến khích sự tự giác và tuân thủ

Hệ thống VNTLAS duy trì cơ chế phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ thành hai nhóm:

Nhóm I (Doanh nghiệp tuân thủ tốt): Nhận được các ưu tiên về hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục hồ sơ khi xuất khẩu.

Nhóm II (Doanh nghiệp chưa tuân thủ tốt hoặc mới hoạt động): Chịu sự giám sát chặt chẽ hơn từ cơ quan Kiểm lâm và các cơ quan chức năng.

Sự phân loại này tạo động lực tự thân để các doanh nghiệp tự hoàn thiện hệ thống quản trị, nâng cao trách nhiệm giải trình và uy tín trên thị trường toàn cầu. Số liệu thống kê cho thấy, việc minh bạch hóa tiêu chí phân loại đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ doanh nghiệp vi phạm trong những năm qua.

Chuyển đổi số và quản lý lâm sản hiện đại

Một điểm mới quan trọng được lồng ghép trong văn bản hợp nhất (theo tinh thần của Nghị định 42/2026/NĐ-CP) là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc. Các quy định về quản lý lâm sản, xử lý lâm sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được chuẩn hóa, tạo điều kiện cho việc vận hành hệ thống dữ liệu gỗ quốc gia thông suốt từ khâu khai thác, vận chuyển đến chế biến.

Trách nhiệm và lộ trình thực thi

Văn bản quy định rõ trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để vận hành hệ thống. UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Kiểm lâm địa phương giám sát thực địa và xác nhận nguồn gốc gỗ tại gốc.

Việc hợp nhất Nghị định quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam không chỉ nhằm mục đích đáp ứng các cam kết quốc tế như Hiệp định VPA/FLEGT, mà còn là cam kết của Việt Nam trong việc xây dựng một nền lâm nghiệp minh bạch, trách nhiệm. Đây chính là nền tảng để ngành chế biến gỗ Việt Nam giữ vững vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu lâm sản hàng đầu thế giới, đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bền vững của đất nước./.

Xem văn bản hợp nhất số 14/VBHN-BNNMT  về việc hợp nhất Nghị định quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam tại đây.

Tin, ảnh An Na
  • Từ khóa :