Chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp: Quy trình mới từ ngày 30/9/2026
Quy định rõ phạm
vi, đối tượng chuyển đổi
Theo Nghị định,
chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp được hiểu là việc chuyển đổi
đơn vị sự nghiệp công lập thành Công ty cổ phần hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nghị định đồng thời quy định
cụ thể các nội dung liên quan đến xử lý tài chính, tài sản, đất đai, lao động
và tổ chức thực hiện trong quá trình chuyển đổi.
Đối tượng áp dụng
gồm đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; đơn vị thuộc cơ quan
chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp tỉnh; đơn vị thuộc UBND cấp
xã và các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đáng chú ý, Nghị
định xác định việc chuyển đổi phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với chủ
trương của Đảng, Chính phủ về nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp
công lập, không làm gián đoạn việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người lao động và các bên có liên quan.
Không chuyển đổi
bằng mọi giá, phải bảo đảm hiệu quả và đúng điều kiện
Một trong những
yêu cầu xuyên suốt của Nghị định là không thực hiện chuyển đổi đối với những
đơn vị chưa đáp ứng điều kiện theo quy định, đặc biệt là các đơn vị đang cung ứng
dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu hoặc thuộc lĩnh vực mà pháp luật quy định Nhà
nước phải trực tiếp cung cấp.
Đối với đơn vị sự
nghiệp công lập được xem xét chuyển đổi thành Công ty cổ phần, Nghị định quy định
cụ thể các tiêu chí về ngành, lĩnh vực hoạt động; khả năng tự bảo đảm chi thường
xuyên và đầu tư; mức độ tham gia của Nhà nước; phương án chuyển đổi và các điều
kiện liên quan đến nhà đầu tư.
Đối với nhà đầu
tư chiến lược, Nghị định cũng đặt ra các điều kiện về tư cách pháp nhân, năng lực
tài chính, kinh nghiệm và cam kết hỗ trợ doanh nghiệp sau chuyển đổi, qua đó hướng
tới việc bảo đảm nguồn lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau chuyển đổi.
Minh bạch tài
chính, tài sản và đất đai là yêu cầu trọng tâm
Nghị định dành
nhiều quy định cho việc kiểm kê, phân loại, xác định giá trị và xử lý tài sản,
các khoản phải thu, phải trả, vốn đầu tư tài chính, đất đai và các nguồn lực
khác của đơn vị sự nghiệp công lập trước khi chuyển đổi.
Theo đó, đơn vị
phải thực hiện kiểm kê, phân loại tài sản; xác định tài sản cần dùng, không cần
dùng, chờ thanh lý; xử lý các khoản công nợ và xác định giá trị đơn vị theo
đúng quy định. Tài sản công, đất đai và các nguồn lực Nhà nước giao quản lý phải
được rà soát, xử lý chặt chẽ, tránh thất thoát, lãng phí trong quá trình chuyển
đổi.
Đối với đất đai,
đơn vị chuyển đổi phải lập phương án sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, lĩnh vực
hoạt động và hình thức sử dụng đất, đồng thời thực hiện việc xác định giá trị
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Xác định giá
trị đơn vị phải bảo đảm công khai, minh bạch
Nghị định quy định
việc xác định giá trị đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi phải được thực hiện
bởi tổ chức tư vấn có đủ điều kiện, với các phương pháp xác định giá trị phù hợp
với từng trường hợp.
Giá trị đơn vị được
xác định trên cơ sở tài sản, vốn nhà nước, các khoản đầu tư tài chính và các yếu
tố có liên quan, bảo đảm phản ánh đúng giá trị thực tế tại thời điểm xác định.
Kết quả xác định giá trị phải được công bố công khai theo trình tự quy định.
Nghị định đồng thời
quy định cơ chế điều chỉnh giá trị đơn vị, kiểm toán nhà nước và xử lý kết quả
kiểm toán, nhằm tăng cường kiểm soát, hạn chế sai lệch và bảo đảm tính chính
xác trong quá trình chuyển đổi.
Bảo đảm quyền
lợi người lao động trong quá trình chuyển đổi
Một nội dung có ý
nghĩa trực tiếp đối với người lao động là chính sách bán cổ phần ưu đãi và
chính sách đối với người lao động khi đơn vị chuyển đổi thành Công ty cổ phần.
Nghị định quy định
các nhóm đối tượng người lao động được mua cổ phần với giá ưu đãi, trong đó có
cơ chế gắn với thời gian thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, đồng thời quy định
việc mua thêm cổ phần trong một số trường hợp theo cam kết làm việc lâu dài tại
doanh nghiệp sau chuyển đổi.
Đối với viên chức,
người lao động chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp, Nghị định cũng quy định
việc tiếp tục thực hiện chế độ, chính sách theo từng trường hợp, bảo đảm quá
trình chuyển đổi được triển khai đồng bộ, hạn chế tác động đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động.
Phân định rõ
trách nhiệm của cơ quan quản lý và đơn vị chuyển đổi
Nghị định giao Bộ,
cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền trách nhiệm chỉ đạo,
tổ chức, kiểm tra, giám sát quá trình chuyển đổi theo phạm vi quản lý.
Đối với UBND cấp
tỉnh, Nghị định quy định trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị thuộc phạm vi quản lý
thực hiện chuyển đổi theo đúng quy định; thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc
khi cần thiết; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; quyết định hoặc phân cấp, ủy quyền
theo thẩm quyền và phê duyệt các nội dung thuộc trách nhiệm của địa phương.
Đơn vị sự nghiệp
công lập chuyển đổi có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, kiểm kê và xử lý
tài chính, tài sản; phối hợp với tổ chức tư vấn; xây dựng phương án chuyển đổi;
thực hiện công khai, minh bạch thông tin và tổ chức bàn giao sau khi hoàn tất
chuyển đổi.
Không để quá
trình chuyển đổi làm gián đoạn dịch vụ công
Một yêu cầu xuyên
suốt được đặt ra là quá trình chuyển đổi phải bảo đảm hoạt động cung ứng
dịch vụ sự nghiệp công được thực hiện liên tục.
Nghị định quy định
đơn vị sau chuyển đổi phải tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ
liên quan đến việc cung ứng dịch vụ công; đồng thời phải bảo đảm chất lượng dịch
vụ và thực hiện đầy đủ các cam kết với Nhà nước.
Đây là cơ sở quan
trọng để việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ dừng ở thay đổi mô
hình tổ chức, mà hướng tới nâng cao hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực và chất
lượng cung ứng dịch vụ, phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị
sự nghiệp công lập.
Công khai,
minh bạch thông tin trong toàn bộ quá trình
Nghị định yêu cầu
các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện công khai thông tin về quá trình chuyển
đổi, trong đó có phương án chuyển đổi, tình hình quản lý và sử dụng đất, phương
án sắp xếp lao động, xử lý tài chính, tài sản và các nội dung liên quan.
Đối với đơn vị
chuyển đổi thành Công ty cổ phần, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày chính thức chuyển thành Công ty
cổ phần phải đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch UPCOM, đăng ký
niêm yết nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Nghị định có
hiệu lực từ ngày 30/9/2026
Nghị định số
373/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/9/2026. Đồng thời, Nghị định
bãi bỏ Nghị định số 150/2020/NĐ-CP ngày 25/12/2020 của Chính phủ về chuyển đơn
vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần và bãi bỏ Điều 41 Nghị định số
125/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nhà nước của
Bộ Tài chính.
Đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án chuyển đổi
trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, việc tổ chức thực hiện tiếp tục được quy định chuyển tiếp tại Nghị
định mới, bảo đảm quá trình chuyển đổi không bị gián đoạn.
Nghị định số
373/2026/NĐ-CP vì vậy đặt ra một quy trình tương đối toàn diện từ khâu lựa chọn
đơn vị, xác định giá trị, xử lý tài chính - tài sản - đất đai, xây dựng phương
án, bán cổ phần, tổ chức bàn giao đến công tác quản lý, giám sát sau chuyển đổi;
qua đó tăng cường kỷ luật, minh bạch trong quản lý nguồn lực nhà nước và bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong quá trình chuyển đổi.
Xem chi tiết Nghị định
số 373/2026/NĐ-CP của Chính phủ tại
đây.