Ngày 23/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 294/2026/NĐ-CP về tổ hợp tác. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019 quy định việc thành lập, tổ chức, hoạt động, chấm dứt hoạt động của tổ hợp tác; chính sách của Nhà nước về phát triển tổ hợp tác và các nội dung liên quan.
Theo
Nghị định, tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành
trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 2 thành viên tự nguyện thành lập, cùng
góp vốn, góp sức lao động để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và
cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của 100%
thành viên, xác định mục đích, thời hạn hợp tác, thông tin thành viên, phần
đóng góp, phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức, quyền, nghĩa vụ và điều kiện
chấm dứt hoạt động.
Nghị
định phân định tổ hợp tác có đăng ký và tổ hợp tác không đăng ký. Tổ hợp tác có
đăng ký thuộc đối tượng phải đăng ký hoặc có nhu cầu đăng ký theo Luật Hợp tác
xã và được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận. Tổ hợp tác không
đăng ký được cấp một mã duy nhất trên Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã,
sử dụng trong suốt quá trình hoạt động.
Tổ
hợp tác có quyền đặt tên riêng; kinh doanh ngành, nghề pháp luật không cấm; hợp
tác với cá nhân, tổ chức; mở tài khoản thanh toán; xác lập giao dịch dân sự và
được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ. Đồng thời, tổ hợp tác phải bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của thành viên, người lao động; thực hiện hợp đồng, chế độ báo
cáo, nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác.
Về
chính sách hỗ trợ, tổ hợp tác được xem xét thụ hưởng khi có giấy chứng nhận
đăng ký, không trong thời gian chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính
đối với hành vi bị nghiêm cấm và đáp ứng tiêu chí theo quy định. Các tiêu chí
gồm tăng số lượng thành viên; có thành viên, người lao động tham gia đào tạo,
bồi dưỡng; hoặc được thành lập không quá 60 tháng tại địa bàn kinh tế - xã hội
khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Khi
nhiều tổ hợp tác cùng đủ điều kiện, việc lựa chọn ưu tiên căn cứ vào số lượng,
thành phần thành viên, mức độ tham gia bảo hiểm xã hội, tỷ lệ lao động nữ, địa
bàn hoạt động, khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuyển đổi số, thích ứng với
biến đổi khí hậu và đóng góp cho cộng đồng. Tổ hợp tác chuyển đổi thành hợp tác
xã được tư vấn, hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán
tối đa 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã lần đầu.
Cá
nhân có năng lực hành vi dân sự phù hợp hoặc pháp nhân Việt Nam có thể tham gia
tổ hợp tác nếu tự nguyện, chấp thuận hợp đồng và cam kết đóng góp tài sản, công
sức. Thành viên được hưởng hoa lợi, lợi tức; tham gia quyết định, quản lý, giám
sát hoạt động; đồng thời phải góp đủ, đúng hạn phần đã cam kết, chịu trách
nhiệm về khoản nợ, nghĩa vụ tài chính và thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Đối
với tổ hợp tác không đăng ký, trong 5 ngày làm việc kể từ khi các thành viên ký
hợp đồng, tổ trưởng hoặc người đại diện được ủy quyền phải gửi hồ sơ thông báo
thành lập đến UBND cấp xã nơi tổ hợp tác hoạt động. Hồ sơ được nộp trực tiếp,
qua bưu chính hoặc trên môi trường điện tử. Khi thay đổi tên, địa chỉ, ngành
nghề, tổng giá trị phần vốn góp, thành viên hoặc thông tin đăng ký thuế, tổ hợp
tác phải thông báo trong 5 ngày làm việc. Trường hợp chấm dứt hoạt động cũng
thực hiện thông báo trong thời hạn này.
Mỗi
năm, tổ hợp tác phải tổ chức ít nhất một cuộc họp thành viên. Cuộc họp lần đầu
được tiến hành khi có trên 75% tổng số thành viên tham dự; nếu không đủ thì
triệu tập lần hai trong 15 ngày làm việc và được tiến hành khi có trên 50%
thành viên tham dự. Việc sửa đổi hợp đồng và định đoạt tài sản chung có giá trị
lớn phải được 100% thành viên tán thành, trừ trường hợp hợp đồng có quy định
khác.
Nghị
định cũng quy định về tài sản chung, phần đóng góp, phân chia hoa lợi, lợi tức,
xử lý lỗ, hoàn trả phần đóng góp, thừa kế và xử lý tài sản khi chấm dứt hoạt
động. Tranh chấp nội bộ được ưu tiên giải quyết bằng thương lượng; nếu không
đạt kết quả thì có thể hòa giải, giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài.
Hằng
năm, trước ngày 15/12, tổ hợp tác phải cập nhật thông tin trên Hệ thống thông
tin quốc gia về hợp tác xã. UBND cấp xã rà soát tình hình hoạt động trên địa
bàn, gửi UBND cấp tỉnh; UBND cấp tỉnh tổng hợp, gửi Bộ Tài chính. Bộ Tài chính
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức thi hành Nghị định.
Chi tiết xem tại Nghị định số 294/2026/NĐ-CP