Từ 1/9/2026: Áp dụng khung tiền bản quyền mới cho điện ảnh, nghệ thuật, báo chí và xuất bản
Cụ thể hóa
trách nhiệm, bảo đảm quyền lợi của người sáng tạo
Nghị định
287/2026/NĐ-CP quy định việc tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo tác phẩm bằng
nguồn ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ; đồng thời
quy định tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền
liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu trong các
lĩnh vực nêu trên. Đây là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện
đúng, đủ nghĩa vụ về bản quyền trong quá trình sáng tạo, khai thác và sử dụng
tác phẩm.
Đối tượng áp dụng
gồm tổ chức, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân sáng tạo tác
phẩm, quyền liên quan và các cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu
quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định. Nghị định cũng xác định các cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quy định tại Nghị định đều thuộc
phạm vi điều chỉnh.
Đáng chú ý, tiền
bản quyền khuyến khích là khoản tiền bản quyền được trả thêm cho tác giả, đồng
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, tổ chức phát sóng... khi
tác phẩm, cuộc biểu diễn, chương trình được khai thác, sử dụng, mang lại nguồn
thu. Việc trả tiền bản quyền phải căn cứ vào doanh thu, chi phí, quy mô, chất
lượng và thời lượng khai thác, sử dụng, phù hợp với từng lĩnh vực.
Điện ảnh: Xác
định tiền bản quyền theo loại hình và chức danh sáng tạo
Đối với tác phẩm
điện ảnh, Nghị định quy định tiền bản quyền sáng tạo được xác định theo phương
thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu; đồng thời căn cứ vào chất lượng, thể
loại và chức danh sáng tạo tác phẩm.
Theo đó, đối với phim
truyện, tỷ lệ tiền bản quyền tính theo giá thành tác phẩm được quy định cho từng
chức danh như biên kịch, đạo diễn, đạo diễn hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, người
làm kỹ xảo, người dựng phim, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế mỹ thuật và người làm hóa
trang. Đối với phim tài liệu, phim khoa học và phim hoạt hình cũng có khung tỷ
lệ riêng, phù hợp đặc thù sáng tạo của từng loại hình.
Nghị định cũng
quy định trường hợp chuyển thể tác phẩm văn học, sân khấu và các loại hình khác
để làm tác phẩm điện ảnh thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được
sử dụng để làm tác phẩm chuyển thể được hưởng tiền bản quyền, bảo đảm quyền lợi
của chủ thể sáng tạo ban đầu.
Mỹ thuật, nhiếp
ảnh: Khung tiền bản quyền gắn với giá thành và quy mô khai thác
Đối với tác phẩm
mỹ thuật, Nghị định quy định tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm căn cứ vào giá
thành tác phẩm, với tỷ lệ được xác định theo từng mức giá thành. Đối với tác phẩm
có giá thành đến 10 tỷ đồng, tỷ lệ được quy định theo từng khoảng giá; với tác
phẩm có giá thành trên 10 tỷ đồng, tiền bản quyền được tính theo mức tiền bản
quyền của tác phẩm có giá thành 10 tỷ đồng cộng với phần tỷ lệ tính trên phần
giá thành vượt quá 10 tỷ đồng.
Đối với hoạt động
khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh, mức tiền bản quyền được xác định
theo quy mô trưng bày, triển lãm, gồm quy mô quốc tế, quốc gia, khu vực, tỉnh/thành
phố và các quy mô khác; đồng thời tính đến đặc thù của hoạt động khai thác, sử
dụng.
Nghệ thuật biểu
diễn: Tiền bản quyền gắn với doanh thu và quy mô chương trình
Một điểm đáng chú
ý của Nghị định là quy định cụ thể tiền bản quyền đối với tác phẩm sân khấu và
các loại hình nghệ thuật biểu diễn theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn
hoặc theo mức tiền bản quyền tương ứng với quy mô, chất lượng chương trình.
Đối với các tác
phẩm sân khấu như kịch nói, chèo, cải lương, kịch ngắn, kịch hình thể, xiếc, rối...,
tỷ lệ tiền bản quyền được xác định riêng cho từng chức danh như biên kịch, đạo
diễn, biên đạo múa, nhạc sĩ, họa sĩ thiết kế mỹ thuật, họa sĩ thiết kế phục
trang, thiết kế đạo cụ, ánh sáng và âm thanh.
Đối với chương
trình nghệ thuật tổng hợp, chương trình nghệ thuật trình diễn trong nhà hát, quảng
trường, lễ hội, không gian công cộng hoặc trên sân vận động, Nghị định đưa ra
các mức tiền bản quyền theo quy mô chương trình và chức danh sáng tạo, qua đó tạo
căn cứ cụ thể để thanh toán cho đội ngũ sáng tạo.
Đối với tác phẩm âm nhạc, tiền bản quyền cũng được
quy định theo thể loại và quy mô tác phẩm, bao gồm tác phẩm cho dàn nhạc giao
hưởng, nhạc cụ độc tấu, thanh nhạc và các hình thức âm nhạc khác. Nghị định đồng
thời quy định mức tiền bản quyền đối với các chức danh tham gia như nhạc
sĩ, biên kịch, đạo diễn, chỉ huy dàn nhạc, họa sĩ thiết kế và người thiết kế
ánh sáng.
Báo chí, phát
thanh, truyền hình: Bảo đảm quyền của người sáng tạo nội dung
Trong lĩnh vực
báo chí, Nghị định quy định tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm báo chí căn cứ vào
loại hình báo chí, nội dung, chất lượng tác phẩm và hình thức tổ chức sản xuất.
Đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo in, báo điện tử, tiền bản quyền được
xác định theo thỏa thuận và quy định pháp luật có liên quan.
Đối với phát
thanh và truyền hình, tiền bản quyền được xác định theo mức chi phí sản xuất và
tỷ lệ phần trăm tương ứng, với các nhóm chương trình như thời sự, phóng sự, ký
sự, phim tài liệu, chương trình tạp chí, tọa đàm, giao lưu, tư vấn, trực tuyến,
ca múa nhạc và thiếu nhi.
Trường hợp khai
thác, sử dụng tác phẩm báo chí để tái sử dụng, phát lại hoặc khai thác trên các
nền tảng khác, Nghị định đặt ra các nguyên tắc về tiền bản quyền, trong đó có
trường hợp khai thác nguồn thu quảng cáo hoặc nguồn thu từ các hoạt động khai
thác khác. Đặc biệt, việc khai thác phải tôn trọng quyền tác giả, quyền liên
quan và thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
Xuất bản:
Khung tỷ lệ rõ hơn, phù hợp từng loại sách
Đối với lĩnh vực
xuất bản, tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm được xác định theo thể loại, tính chất
đề tài, chất lượng đặt hàng, phạm vi và đối tượng chương trình, đề án, thời hạn
và phương thức sáng tạo tác phẩm. Tiền bản quyền đối với sử dụng tác phẩm để xuất
bản được xác định theo tỷ lệ phần trăm doanh thu đối với từng thể loại sách.
Các nhóm tác phẩm
được quy định gồm văn xuôi, sách nhạc, thơ, kịch bản sân khấu - điện ảnh, sách
tranh, truyện tranh, từ điển, sách nghiên cứu lý luận về chính trị, văn hóa, xã
hội, sách khoa học - công nghệ, giáo trình, sách bài học, sách tham khảo phổ
thông, bản đồ... Qua đó tạo căn cứ cụ thể hơn để xác định tiền bản quyền phù hợp
với đặc điểm của từng loại xuất bản phẩm.
Nghị định cũng
quy định phương thức tính tiền bản quyền đối với xuất bản phẩm in và xuất bản
phẩm điện tử, trong đó tiền bản quyền được xác định trên cơ sở tỷ lệ phần trăm
nhân với giá thành sản xuất và số lượng in hoặc doanh thu sử dụng; đồng thời
quy định các khoản tiền bản quyền tối thiểu đối với một số trường hợp.
Đề cao trách
nhiệm quản lý, bảo vệ giá trị sáng tạo
Nghị định
287/2026/NĐ-CP không chỉ đưa ra các khung, tỷ lệ và phương thức tính tiền bản
quyền mà còn làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo
đảm quyền lợi của người sáng tạo và sử dụng đúng nguồn lực ngân sách nhà nước.
Theo quy định
chuyển tiếp, đối với các trường hợp sáng tạo theo phương thức đặt hàng, giao
nhiệm vụ, đấu thầu sử dụng ngân sách nhà nước đã có quyết định giao nhiệm vụ, đặt
hàng hoặc đấu thầu trước thời điểm Nghị định có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện
theo quy định pháp luật tại thời điểm có quyết định, trừ trường hợp pháp luật
quy định khác.
Nghị định số
287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/9/2026. Nghị định số 18/2014/NĐ-CP và các
quy định liên quan về tiền bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn hết hiệu
lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực. Các quy định pháp luật đã
ban hành trước đó được áp dụng theo nguyên tắc chuyển tiếp được Nghị định quy định.
Với việc thiết lập
khung tiền bản quyền cụ thể theo từng lĩnh vực, loại hình và chức danh sáng tạo,
Nghị định 287/2026/NĐ-CP góp phần minh bạch hóa cơ chế thanh toán bản quyền,
nâng cao trách nhiệm trong sử dụng ngân sách nhà nước và quan trọng hơn là bảo
đảm giá trị của lao động sáng tạo được ghi nhận, bảo vệ và trả công tương xứng
theo quy định pháp luật.
Xem chi tiết Nghị định
số 287/2026/NĐ-CP của Chính phủ tại
đây.