Luật Tiếp cận thông tin mới: Đề cao minh bạch, siết trách nhiệm cung cấp thông tin
Bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin là trách nhiệm của cơ quan, đơn vị
Luật số
01/2026/QH16 quy định việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân và
trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng
dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong việc bảo đảm quyền này.
Theo Luật, thông
tin được hiểu theo phạm vi rộng, bao gồm tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn
bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử,
tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ
quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ. Việc tiếp cận thông tin bao gồm đọc, xem,
nghe, ghi chép, sao chép, chụp, tải về thông tin.
Điểm đáng chú ý,
Luật khẳng định mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc
thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Nhà nước đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện
thuận lợi cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và người sinh sống tại
khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện quyền này.
Thông tin phải
chính xác, đầy đủ, kịp thời và thuận lợi
Một trong những
yêu cầu xuyên suốt của Luật là nâng cao chất lượng và trách nhiệm trong cung cấp
thông tin.
Theo đó, thông
tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp phải đúng trình tự, thủ
tục, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường
cung cấp thông tin trên môi trường số, bảo đảm tính kịp thời, minh bạch và thuận
lợi cho công dân.
Công dân có thể
tiếp cận thông tin theo hai phương thức: tự do tiếp cận thông tin do cơ quan,
đơn vị công khai hoặc yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin. Công dân có
quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi;
đồng thời có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về tiếp
cận thông tin theo quy định.
Xác định rõ đầu
mối cung cấp thông tin ở từng cấp
Luật quy định cơ
quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, trừ các trường hợp
thuộc diện không được tiếp cận hoặc chỉ được tiếp cận khi đáp ứng điều kiện
theo luật định.
Đáng chú ý, đối với
chính quyền địa phương, đơn vị đầu mối do UBND cấp tỉnh xác định có trách nhiệm
cung cấp thông tin do UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh tạo ra và thông tin do chính
đơn vị mình tạo ra.
Ở cấp xã, đơn vị
đầu mối do UBND cấp xã xác định có trách nhiệm cung cấp cho công dân cư trú
trên địa bàn thông tin do HĐND, UBND, Chủ tịch UBND, các cơ quan chuyên môn và
tổ chức hành chính khác của cấp mình tạo ra; đồng thời cung cấp cho công dân
khác trong trường hợp thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
Quy định này góp
phần làm rõ trách nhiệm, đầu mối và phạm vi cung cấp thông tin, hạn chế tình trạng
người dân không xác định được cơ quan nào có trách nhiệm trả lời, cung cấp
thông tin khi thực hiện quyền của mình.
Tăng cường
công khai thông tin, ưu tiên môi trường số
Luật quy định nhiều
nhóm thông tin phải được công khai, trong đó bao gồm chiến lược, chương trình,
dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; văn bản pháp luật; thông
tin về tài chính - ngân sách; quy hoạch; đầu tư; giáo dục; y tế; môi trường;
lao động; dịch vụ công và nhiều lĩnh vực khác.
Hình thức công
khai thông tin được thực hiện thông qua đăng tải trên cổng thông tin điện tử,
trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu; công khai trên phương tiện thông tin đại
chúng; đăng Công báo, niêm yết; thông qua tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo
chí và các hình thức khác theo quy định.
Trong đó, việc
công khai trên môi trường điện tử được Luật đặc biệt chú trọng. Cơ quan, đơn vị
phải công khai các thông tin thuộc diện phải công khai trên cổng thông tin điện
tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng để đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động công vụ, nâng cao khả
năng tiếp cận thông tin của người dân và tăng tính công khai, minh bạch trong
hoạt động của cơ quan nhà nước.
Minh bạch
nhưng phải bảo vệ bí mật và quyền riêng tư
Quyền tiếp cận
thông tin được bảo đảm nhưng không phải là quyền tiếp cận không giới hạn.
Luật quy định việc
hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong những trường hợp cần
thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Đồng thời, việc thực hiện quyền tiếp cận thông
tin không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.
Một số thông tin
không được tiếp cận bao gồm thông tin thuộc bí mật nhà nước; thông tin về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; bí mật kinh doanh và một số thông
tin khác theo quy định của pháp luật. Một số thông tin liên quan đến đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình có thể được tiếp cận khi đáp ứng điều
kiện luật định.
Qua đó, Luật đặt
ra yêu cầu hài hòa giữa bảo đảm quyền được biết của người dân với bảo vệ bí mật
nhà nước, dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư và các lợi ích hợp pháp khác.
Siết trách nhiệm
đối với hành vi cung cấp thông tin sai lệch, chậm trễ
Luật nghiêm cấm
các hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn cung cấp
thông tin; không cung cấp thông tin theo quy định; hủy hoại hoặc làm giả thông
tin.
Đồng thời, nghiêm
cấm việc cung cấp, sử dụng thông tin để xâm hại lợi ích quốc gia, gây chia rẽ
dân tộc, kích động bạo lực; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín; xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cản trở, đe dọa, trù dập người
yêu cầu hoặc người cung cấp thông tin.
Người có hành vi
vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin, tùy tính chất và mức độ, có thể bị xử
lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường
hợp người cung cấp thông tin gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường
theo quy định của pháp luật.
Quy trình cung
cấp thông tin theo yêu cầu được quy định cụ thể
Đối với thông tin
được cung cấp theo yêu cầu, Luật quy định công dân có thể thực hiện yêu cầu trực
tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua mạng Internet, trong đó có thể thực hiện
thông qua cổng dịch vụ công, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử hoặc
ứng dụng trên thiết bị điện tử theo quy định.
Công dân được
cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp phải trả chi phí
thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin. Người yêu cầu cung cấp thông tin có
trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế này theo quy định.
Cơ quan, đơn vị
tiếp nhận yêu cầu phải hướng dẫn công dân thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin
khi cần thiết; trường hợp thông tin được yêu cầu không thuộc phạm vi cung cấp
thì phải thông báo và nêu rõ lý do.
Đối với yêu cầu
cung cấp thông tin hợp lệ, cơ quan, đơn vị phải cung cấp thông tin trong thời hạn
12 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trường hợp cần gia hạn thì thực hiện theo
quy định của Luật.
Tạo nền tảng
pháp lý cho một nền hành chính công khai, minh bạch
Với những quy định
cụ thể về quyền của công dân, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, phạm vi thông
tin được công khai, phương thức tiếp cận, quy trình cung cấp theo yêu cầu và xử
lý vi phạm, Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 tiếp tục khẳng định yêu cầu
xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, trách nhiệm và lấy người dân làm
trung tâm phục vụ.
Đối với các cơ
quan, đơn vị, việc triển khai Luật đòi hỏi chủ động rà soát quy trình nội bộ,
xác định rõ trách nhiệm và đầu mối cung cấp thông tin, tăng cường công khai
thông tin trên môi trường số, bảo đảm thông tin cung cấp đúng, đủ, kịp thời, đồng
thời kiểm soát chặt chẽ những thông tin thuộc diện hạn chế tiếp cận.
Đối với người
dân, Luật mở rộng và cụ thể hóa hơn nữa quyền được biết, quyền được tiếp cận
thông tin và quyền giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó góp phần
tăng cường sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu quả quản trị
nhà nước.
Luật Tiếp cận
thông tin số 01/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 1/9/2026; Luật Tiếp cận thông tin
số 104/2016/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật mới có hiệu lực. Các quy định
chuyển tiếp được áp dụng đối với thông tin do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm
giữ trước ngày Luật mới có hiệu lực và các yêu cầu cung cấp thông tin đang được
giải quyết.
Xem chi tiết Luật số
01/2026/QH16 của Quốc hội tại đây.