Bộ Y tế hướng dẫn triển khai Chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2030
Lấy người dân
làm trung tâm, bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng
Thông tư quy định
việc triển khai Chương trình phải đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng phạm vi,
đồng thời không để xảy ra trùng lặp với các chương trình mục tiêu quốc gia khác
hoặc những nhiệm vụ quản lý nhà nước đã được bảo đảm đầy đủ từ nguồn kinh phí
chi thường xuyên hằng năm.
Đáng chú ý, việc
huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phải tuân thủ quy định của pháp luật
về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định có liên quan; khuyến khích sự
tham gia, đóng góp của tổ chức, gia đình và cá nhân trong chăm sóc sức khỏe,
dân số và phát triển. Các nội dung hướng dẫn tại Thông tư là căn cứ chuyên môn
để địa phương, đơn vị lập kế hoạch, lựa chọn nhiệm vụ và tổ chức thực hiện.
Theo đó, chương
trình được triển khai thông qua các nội dung về đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm
thiết bị, vật tư, hàng hóa, dịch vụ; hoạt động chuyên môn; đồng thời áp dụng bộ
chỉ số giám sát, đánh giá nhằm theo dõi kết quả thực hiện.
Nâng năng lực
y tế cơ sở, đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần người dân
Một trong những
trọng tâm là Dự án 1 - Nâng cao năng lực mạng lưới y tế cơ sở.
Theo Thông tư,
các địa phương được đầu tư xây mới, nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng và mua sắm
thiết bị cho trạm y tế xã, phường, đặc khu và cơ sở quân dân y do chính quyền địa
phương quản lý, trong đó ưu tiên những địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo và vùng đặc biệt khó khăn.
Cùng với đầu tư
cơ sở vật chất, chương trình chú trọng phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở.
Bác sĩ đang làm việc tại trạm y tế cấp xã, cũng như bác sĩ phù hợp đang công
tác tại trung tâm y tế hoặc bệnh viện khu vực ở địa bàn khó khăn, đặc biệt khó
khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, nếu đáp ứng điều kiện theo quy định và
không quá 45 tuổi, thuộc nhóm được đào tạo bác sĩ chuyên khoa.
Các chuyên ngành
đào tạo gồm nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, hồi sức cấp cứu, truyền
nhiễm và bệnh nhiệt đới, y học cổ truyền, y học gia đình; riêng bác sĩ tại trạm
y tế cấp xã được đào tạo chuyên khoa y học gia đình. Mục tiêu là từng bước nâng
cao năng lực chuyên môn ngay tại tuyến gần dân nhất, góp phần để người dân được
tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng ngay từ cơ sở.
Chăm sóc bà mẹ,
trẻ em từ sớm - bảo vệ sức khỏe ngay từ những ngày đầu đời
Thông tư dành nhiều
nội dung quan trọng cho chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và dinh dưỡng trong
1.000 ngày đầu đời.
Tại trạm y tế cấp
xã, phụ nữ mang thai được tư vấn, xét nghiệm HIV, viêm gan B và giang mai ngay
trong lần khám thai đầu tiên, qua đó kịp thời phát hiện và can thiệp dự phòng
lây truyền từ mẹ sang con. Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm trực tiếp tổ chức
khám thai định kỳ, thực hiện hoặc phối hợp thực hiện xét nghiệm, theo dõi, tư vấn,
điều trị hoặc chuyển tuyến đối với trường hợp có kết quả dương tính theo hướng
dẫn chuyên môn.
Đặc biệt, mô hình
Chăm sóc dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu đời được triển khai cho phụ nữ mang
thai, bà mẹ, người chăm sóc trẻ dưới 2 tuổi, trẻ em từ 0 đến dưới 2 tuổi và hộ
gia đình có trẻ dưới 2 tuổi tại địa bàn triển khai.
Các hoạt động gồm
tư vấn dinh dưỡng; khám sàng lọc, đánh giá dinh dưỡng; hướng dẫn thực hành chế
biến thức ăn cho trẻ; sinh hoạt nhóm nuôi dưỡng trẻ nhỏ tại cộng đồng. Phụ nữ
mang thai được sàng lọc, đánh giá dinh dưỡng 4 lần trong thai kỳ; trẻ dưới 2 tuổi
được thực hiện 3 tháng/lần, có thể lồng ghép với các hoạt động khám thai, khám
sức khỏe định kỳ.
Đối với vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình còn hỗ trợ chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà sau sinh; hỗ trợ kinh phí cho nhân viên y tế, nhân
viên y tế thôn, bản và cô đỡ thôn, bản trực tiếp cung cấp dịch vụ theo quy định,
tối đa không quá 3 lần đối với mỗi bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Chủ động phòng
bệnh, phát hiện sớm và quản lý sức khỏe ngay tại cộng đồng
Một điểm nhấn
khác là Dự án 2 - Nâng cao hiệu quả hệ thống phòng bệnh và nâng cao sức khỏe.
Chương trình đầu
tư trang thiết bị cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật các tỉnh, thành phố phục vụ
giám sát, phòng, chống dịch bệnh; trong đó có thiết bị định danh vi khuẩn,
kháng sinh đồ, sinh học phân tử, phân tích đa tác nhân và các thiết bị phục vụ
hiện đại hóa phòng thử nghiệm giám sát chất lượng nước sạch, vệ sinh trường học.
Công tác giám sát
trọng điểm các bệnh truyền nhiễm được triển khai đối với các bệnh như sốt xuất
huyết, tay chân miệng, dịch hạch, cúm mùa, COVID-19 và một số tác nhân gây bệnh
đường hô hấp khác tại các địa điểm được lựa chọn.
Song song với
phòng, chống bệnh truyền nhiễm, chương trình đẩy mạnh dự phòng, phát hiện sớm,
quản lý bệnh không lây nhiễm và rối loạn tâm thần tại cộng đồng. Việc khám có
thể được lồng ghép để phát hiện đồng thời nhiều bệnh không lây nhiễm và các rối
loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, lo âu, sa sút trí tuệ; đồng thời tăng cường
tư vấn thay đổi lối sống, dinh dưỡng, hoạt động thể lực và chăm sóc người bệnh
tại gia đình.
Đưa chuyển đổi
số vào quản lý sức khỏe của từng người dân
Chương trình xác
định chuyển đổi số là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng quản lý,
theo dõi và tư vấn sức khỏe toàn diện.
Theo đó, Bộ Y tế
xây dựng và triển khai thống nhất Nền tảng Trạm Y tế xã trên toàn quốc, bảo đảm
an toàn thông tin, an ninh mạng, tính ổn định và toàn vẹn dữ liệu. Các trạm y tế
sẽ được tập huấn sử dụng nền tảng; địa phương có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng
công nghệ thông tin, thiết bị, đường truyền và các điều kiện kỹ thuật cần thiết.
Người dân được quản
lý hồ sơ sức khỏe thông qua Nền tảng Trạm Y tế xã và tiếp cận dịch vụ tư vấn sức
khỏe bằng nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh từ xa.
Cùng với đó,
chương trình thúc đẩy mô hình bác sĩ gia đình gắn với hồ sơ sức khỏe điện tử,
quản lý sức khỏe toàn dân và ứng dụng thiết bị y tế thông minh, qua đó theo dõi
liên tục các chỉ số sức khỏe, hỗ trợ tư vấn và chăm sóc sức khỏe tại nhà.
Không để nhóm
yếu thế bị bỏ lại phía sau
Trong lĩnh vực
dân số và phát triển, chương trình tập trung nâng cao chất lượng dân số, phát
triển mạng lưới sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh tật trước sinh, sơ sinh; đồng
thời triển khai các hoạt động ổn định và phát triển dân số tại vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực biên giới.
Đối với người cao
tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người tâm thần, người nhiễm
HIV/AIDS và các nhóm dễ bị tổn thương, chương trình hướng tới nâng cao chất lượng
chăm sóc xã hội, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và phát triển mạng lưới
trợ giúp xã hội.
Theo Phụ lục I,
chương trình đặt mục tiêu đầu tư nâng cấp, sửa chữa, cải tạo và mua sắm trang
thiết bị cho tối thiểu 20 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở bảo trợ xã hội,
cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp và trung tâm công tác xã hội; đồng thời hỗ trợ
các cơ sở nâng cao năng lực chăm sóc, phục hồi chức năng và hỗ trợ hòa nhập cho
các nhóm đối tượng yếu thế.
Địa phương phải
chủ động tổ chức thực hiện, bảo đảm đồng bộ và hiệu quả
Thông tư xác định
rõ trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố trong tổ chức triển khai chương
trình thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế; đồng thời chỉ đạo các cơ
quan, đơn vị trực thuộc phối hợp thực hiện, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, đúng mục
tiêu, đúng đối tượng và phù hợp với điều kiện thực tế.
Đối với địa
phương, đây không chỉ là yêu cầu về tổ chức thực hiện một chương trình mục tiêu
quốc gia, mà còn là cơ sở để chuyển mạnh từ chăm sóc sức khỏe thụ động sang chủ
động phòng bệnh, từ điều trị tại cơ sở y tế sang quản lý sức khỏe liên tục tại
cộng đồng và tại mỗi gia đình.
Việc triển khai
phải gắn với xây dựng kế hoạch, xác định nhu cầu thực tế, bố trí và sử dụng nguồn
lực đúng quy định; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá và thực hiện
đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo.
Với cách tiếp cận
lấy người dân làm trung tâm, củng cố y tế cơ sở, chủ động phòng bệnh, chăm sóc
bà mẹ - trẻ em, nâng cao chất lượng dân số, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường
trợ giúp các nhóm dễ bị tổn thương, Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc
sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I 2026-2030 hướng
tới một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn diện, công bằng và gần dân hơn.
Xem chi tiết Thông tư số 34/2026/TT-BYT của Bộ Y tế tại đây.