Đối tượng áp dụng bao gồm
1. Tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập.
5. Doanh nghiệp nhà nước.
6. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước.
7. Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.
Luật nêu rõ: Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công bao gồm:
Lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung và thời gian, không đúng đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, gây lãng phí;
Sử dụng ngân sách nhà nước không đúng mục đích đã được phê duyệt, đối tượng, dự toán được giao; vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định. Trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật, gây lãng phí;
Quyết toán chi ngân sách nhà nước không đúng, không đủ thủ tục, sai nội dung, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định; duyệt quyết toán chậm, trì hoãn quyết toán sai quy định của pháp luật, gây lãng phí;
Quản lý, sử dụng quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và các quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật không đúng mục đích, quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ, gây lãng phí;
Thực hiện vay trái quy định của pháp luật, vay vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định của pháp luật, gây lãng phí.
Ngoài ra Luật cũng quy định rõ vế Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công; Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng; Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP); quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Các hành vi gây lãng phí khác theo quy định của Chính phủ