GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH

MỘT SỐ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI, GIÁ CẢ VÀ DU LỊCH

 

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đã bán trực tiếp cho người tiêu dùng (Bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, tập thể), của các đơn vị cơ sở kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ (Bao gồm các đơn vị cơ sở kinh doanh thương nghiệp thuần tuý, các đơn vị cơ sở không chuyên kinh doanh thương nghiệp nhưng có tham gia bán lẻ hàng hoá, kinh doanh khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ. . .), trong khoảng thời gian và không gian xác định.

Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá là toàn bộ giá trị hàng hoá đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ Việt Nam làm giảm (xuất khẩu), làm tăng (nhập khẩu) nguồn của cải, vật chất của Việt Nam trong một thời kì nhất định và được tổng hợp theo hệ thống thương mại đặc biệt mở rộng.

Hàng xuất khẩu gồm: Toàn bộ hàng hoá có xuất xứ trong nước và hàng tái xuất, được xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài hoặc gửi vào các kho ngoại quan, trong đó:

+ Hàng có xuất xứ trong nước là hàng hoá được sản xuất, kinh doanh khai thác, chế biến trong nước ( Kể cả hàng gia công cho nước ngoài, hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài của các doanh nghiệp chế xuất ở trong hoặc ngoài khu chế xuất).

+ Hàng tái xuất là những hàng hoá nước ta đã được nhập khẩu, sau đó lại xuất khẩu nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, không làm thay đổi về chất về hàng hoá đó.

Hàng nhập khẩu gồm: Toàn bộ hàng hoá nước ngoài và hàng tái nhập, được nhập khẩu để phục vụ cho các mục đích sản xuất, kinh doanh, gia công, tiêu dùng trong nước và để tái xuất khẩu, kể cả hàng nhập khẩu vào các doanh nghiệp chế xuất ở trong và ngoài khu chế xuất, trong đó:

+ Hàng hoá nước ngoài là những hàng hoá được nhập khẩu trực tiếp từ các nước, kể cả hàng hoá của Việt Nam được gia công ở nước ngoài sau đó nhập vào trong nước (nếu có) và những hàng hoá nhập khẩu vào trong nước từ các kho ngoại quan.

+ Hàng tái nhập là những hàng hoá của nước ta đã xuất khẩu ra nước ngoài, sau đó được nhập khẩu trở lại nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, đóng gói lại, bản chất của hàng hoá không thay đổi.

Lượt khách: Là số lượt khách đến và có sử dụng các tiện nghi hay tiêu thụ dịch vụ của các đơn vị lưu trú, đơn vị du lịch, lữ hành . . .

Ngày khách: Được qui ước là lượt ngày đêm có ngủ của mỗi khách. Trong đó trường hợp khách của đơn vị này đưa đến đơn vị khác, để tránh tình trạng tính trùng qui ước khách có thuê buồng ngủ ở đâu thì do đơn vị đó ghi. Đây là chỉ tiêu phản ánh số lượng kết hợp với hành trình thời gian của khách du lịch.

Doanh thu du lịch: Là tổng số tiền thu được do kết quả bán hàng hoá và hoàn thành các dịch vụ của đơn vị.

Doanh thu được chia theo số lượng phục vụ (khách quốc tế hay khách là người Việt Nam đi du lịch nước ngoài). Doanh thu còn được chia theo loại hình kinh doanh: Dịch vụ (buồng, phòng, lữ hành, vận chuyển, vui chơi giải trí, dịch vụ khác); Bán hàng hoá (bán hàng ăn uống và doanh thu khác không thuộc các loại trên).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức biến động giá tiêu dùng cho sinh hoạt đời sống của cá nhân và gia đình.

Chỉ số giá tiêu dùng được tính từ giá bán lẻ hàng hoá và giá dịch vụ phục vụ đời sống dân cư của tất cả các thành phần kinh tế tham gia bán lẻ hàng hoá và giá dịch vụ phục vụ đời sống dân cư của tất cả các thành phần kinh tế tham gia bán lẻ hàng hoá và hoạt động kinh doanh dịch vụ trên thị trường ( Nhà nước, tập thể, tư nhân, cá thể. . .).

Giá trị sản xuất của ngành thương mại

- Giá trị sản xuất của hoạt động thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy . . . là toàn bộ giá trị sản phẩm dịch vụ do hoạt động này tạo ra được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).

- Giá trị sản xuất ngành khách sạn, nhà hàng: Là toàn bộ giá trị về dịch vụ cho thuê buồng, phòng và hoạt động kinh doanh ăn uống trong một thời kì nhất định (thường là 1 năm).

 - Giá trị sản xuất ngành du lịch: Là toàn bộ giá trị sản phẩm dịch vụ du lịch được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).