TIN HOẠT ĐỘNG

Báo cáo tổng kết việc thực hiện Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2001-2010

UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

 

  Số: 74 /BC-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  


Ninh Bình, ngày  16  tháng  7   năm 2010     

 

BÁO CÁO

Tổng kết việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010, xây dựng Chương trình cải cách hành chính tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2020

  Thực hiện Công văn số 464/BNV-CCHC ngày 12/2/2010 của Bộ Nội vụ về việc tổng kết thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình báo cáo kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, xây dựng Chương trình cải cách hành chính tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2020 như sau:

Phần thứ nhất
TỔNG KẾT VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001-2010

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, TRIỂN KHAI

1. Tình hình, kết quả công tác chỉ đạo, triển khai

1.1. Phổ biến, quán triệt Chương trình tổng thể

Ngay sau khi Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, UBND tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt nội dung cơ bản của Chương trình tổng thể và Kế hoạch triển khai Chương trình tổng thể của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ; Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của tỉnh giai đoạn 2001-2010, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện cải cách hành chính. Các cơ quan, đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ đã có những hình thức tổ chức, học tập phù hợp (họp giao ban, họp định kỳ hàng tháng, sinh hoạt chi bộ...) để quán triệt, phổ biến nội dung Chương trình tổng thể và các văn bản có liên quan của bộ ngành Trung ương và của tỉnh. Qua học tập, quán triệt, lãnh đạo các cấp, cán bộ, công chức đã nắm được mục đích, ý nghĩa, các nội dung cơ bản về cải cách hành chính nhà nước, từ đó có kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn của địa phương, đơn vị.

1.2. Xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai

Thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 10 năm (2001-2010), UBND tỉnh đã xây dựng, ban hành kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005; giai đoạn 2006-2010 và kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh hàng năm để triển khai đồng bộ bốn nội dung đã được xác định trong Chương trình tổng thể, gồm: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công. Để giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác cải cách hành chính có hiệu quả, năm 2009, 2010 Kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh được xây dựng theo phương pháp mới “phương pháp quản lý theo kết quả đầu ra”, bao gồm mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, tương ứng với mục tiêu cụ thể là các hoạt động, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, chỉ số giám sát và thời gian hoàn thành. Bên cạnh đó, các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố cũng xây dựng, ban hành kế hoạch thực hiện cải cách hành chính hàng năm để triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính được giao tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

1.3. Thông tin, tuyên truyền

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính, các cấp, các ngành của tỉnh đã triển khai Đề án của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền Chương trình tổng thể cải cách hành chính với nhiều hình thức và nội dung đa dạng, phong phú. UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch tuyên truyền cải cách hành chính năm 2005, kế hoạch tuyên truyền cải cách hành chính giai đoạn 2008-2010, chỉ đạo, định hướng nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền. Các cơ quan báo, đài của tỉnh đã mở các chuyên mục, chuyên trang thông tin, tuyên truyền về tình hình, kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước ở tỉnh; từ năm 2001 đến nay Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh đã phát sóng 500 tin, bài về công tác cải cách hành chính với thời lượng từ 1-5 phút/tin, bài. Ban Quản lý Dự án cải cách hành chính tỉnh biên tập, phát hành đều đặn ba tháng một kỳ bản tin cải cách hành chính. Năm 2005, Tỉnh đoàn Ninh Bình đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu về cải cách hành chính cho các đoàn viên thanh niên khối cơ quan tỉnh và các tổ chức đoàn cơ sở. Ngoài ra, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về công tác cải cách hành chính được lồng ghép thành các chuyên đề trong các nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Nội dung thông tin, tuyên truyền tập trung vào mục đích, ý nghĩa, nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về cải cách hành chính, các mô hình, cơ chế thí điểm trong cải cách hành chính, biểu dương các điển hình tiên tiến, cơ quan, đơn vị làm tốt công tác cải cách hành chính, chỉ rõ những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại cần khắc phục trong quá trình thực hiện cải cách hành chính nhà nước.

Công tác thông tin, tuyên truyền đã chuyển tải được các yêu cầu, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính, thông qua đó cán bộ, công chức, các tầng lớp nhân dân có nhận thức đầy đủ, rõ ràng và thống nhất về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước để có thái độ tích cực, động cơ đúng đắn hăng hái tham gia vào công cuộc cải cách hành chính nhà nước.

1.4. Kiểm tra việc thực hiện

Nhằm đánh giá đúng tình hình triển khai thực hiện, kết quả đạt được, những tồn tại của công tác cải cách hành chính ở địa phương, hàng năm UBND tỉnh đều tổ chức kiểm tra công tác cải cách hành chính. Kết quả, từ năm 2001 đến nay đã tiến hành 14 đợt kiểm tra việc thực hiện công tác cải cách hành chính tại 113 cơ quan, đơn vị, địa phương (23 cơ quan cấp tỉnh, 8 đơn vị cấp huyện, 82 đơn vị cấp xã). Qua kiểm tra đã phát hiện kịp thời những hạn chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc để tìm ra những giải pháp tháo gỡ, khắc phục, tăng cường hiệu quả công tác cải cách hành chính tại các cơ quan, góp phần hoàn thành chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, của tỉnh.

1.5. Công tác sơ kết, tổng kết

Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện cải cách hành chính ở tỉnh được quan tâm. Năm 2003, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết, nhân rộng mô hình thí điểm thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, đến năm 2006 tổ chức sơ kết 03 năm thực hiện cơ chế một cửa, báo cáo Bộ Nội vụ tình hình, kết quả, bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng giải pháp khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2005 tỉnh đã tổ chức tổng kết việc thực hiện giai đoạn I (2001-2005) Chương trình tổng thể, xây dựng kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2010. Ngoài ra, định kỳ 06 tháng đầu năm, hàng năm, Ban chỉ đạo Cải cách hành chính cấp tỉnh, Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính cấp huyện đều tiến hành sơ kết việc thực hiện cải cách hành chính.... qua đó đã đánh giá đúng kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và đề ra các biện pháp để đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính ở tỉnh. 

2. Nhận xét chung về công tác chỉ đạo, triển khai

10 năm qua, công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính được các cấp, các ngành ở tỉnh quan tâm triển khai và đạt được những kết quả tích cực. Các hoạt động của cơ quan hành chính được gắn kết thường xuyên với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình tổng thể. Kế hoạch hàng năm, giai đoạn được xây dựng trên cơ sở chương trình tổng thể và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương, xác định rõ những nhiệm vụ phải giải quyết và các giải pháp thực hiện. Công tác thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, trên cơ sở đó có những biện pháp hiệu quả phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại nhằm hoàn thành các nội dung, mục tiêu đã đề ra tại Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong chỉ đạo, điều hành cũng bộc lộ một số hạn chế như: công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị đôi khi còn thiếu kiên quyết; Ban Chỉ đạo cải cách hành chính ở một số đơn vị hoạt động chưa thường xuyên, chất lượng hiệu quả chưa cao; đội ngũ công chức chuyên môn làm công tác cải cách hành chính chậm được tăng cường; đầu tư về nhân lực, trí lực, nguồn lực cho cải cách hành chính ở một số cơ quan, đơn vị còn chưa đáp ứng được yêu cầu.

II. TỔNG KẾT, ĐÁNH GIÁ CÁC NỘI DUNG CẢI CÁCH

1. Cải cách thể chế

1.1. Kết quả chủ yếu đã đạt được

a. Thể chế:

 UBND các cấp ở tỉnh đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do Trung ương ban hành và cụ thể hoá việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của địa phương, tập trung vào các nội dung như: thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, uỷ quyền cho các cơ quan chuyên môn trực thuộc và cấp huyện trên nhiều lĩnh vực.... Thể chế của bản thân hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới, thể hiện trong một loạt các văn bản như: quy định về giải thể, sáp nhập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân ở cấp tỉnh, cấp huyện; quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức; quy chế làm việc ở 03 cấp chính quyền, quy định về tiêu chuẩn chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh; tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố và nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố…Các thể chế hành chính được ban hành đã tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ phần lớn những chồng chéo và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp dịch vụ công. Thể chế về mối quan hệ giữa nhà nước với dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đáng chú ý là các văn bản về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, cơ chế một cửa, một cửa liên thông, công khai ngân sách, tài chính, v.v… Việc triển khai các thể chế này đã góp phần vào xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát hoạt động của chính quyền các cấp.

Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03/12/2004, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ; chất lượng, nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng lên, cơ bản đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất, phù hợp với những quy định của luật pháp quốc tế, góp phần khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong ban hành văn bản, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương đi vào nề nếp. Có thể nói bằng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai có hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh quốc phòng ở địa phương.

Ngoài ra, nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ở địa phương nói riêng, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, HĐND, UBND các cấp ở địa phương đã tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ tự kiểm tra, tự rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Trung ương ban hành điều chỉnh những nội dung liên quan đến địa phương và thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ban hành nhằm phát hiện kịp thời những nội dung không phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như không đáp ứng với yêu cầu của hội nhập để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời. Kết quả trong giai đoạn 2001-2010 đã thực hiện tự kiểm tra và rà soát 4.925 văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ban hành, đã sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời 1.396 văn bản không còn phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

b. Thủ tục hành chính

Công tác cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế một cửa đã được đẩy mạnh triển khai mạnh và thu được những kết quả tích cực. Thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được rà soát, sửa đổi, ban hành mới theo hướng đơn giản hoá, thuận tiện cho tổ chức, công dân, loại bỏ những thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà, bước đầu tạo lập niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào hoạt động phục vụ của các cơ quan công quyền.

Đặc biệt từ năm 2007, Đề án 30 về đơn giản hoá các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước đã được địa phương triển khai khẩn trương, nghiêm túc, bảo đảm đúng tiến độ theo kế hoạch được Thủ tướng phê duyệt. Kết thúc giai đoạn thống kê, Ninh Bình đã công bố 1.619 thủ tục hành chính của 3 cấp chính quyền và công khai trên Trang tin điện tử của Tổ công tác chuyên trách Cải cách Thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ. Với tinh thần “Chung tay cải cách thủ tục hành chính”, đến nay đã hoàn thành việc rà soát 1.555 thủ tục hành chính, kiến nghị đơn giản hóa 1.129 thủ tục hành chính đạt tỷ lệ 72,6%, vượt 42,6% so với chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả thực hiện Đề án 30 ở địa phương đã tạo điều kiện để người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp ở tỉnh nắm vững, kiểm soát được số lượng thủ tục hành chính hiện có đang áp dụng trên địa bàn, khắc phục tình trạng tuỳ tiện, thiếu thống nhất về nội dung và số lượng thủ tục giữa các xã, các huyện ở địa phương. Mặt khác, là điều kiện cần thiết để bảo đảm sự thông suốt trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp giải quyết công việc, tham gia giám sát quá trình thực thi công vụ của cán bộ, công chức, góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

c. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai thực hiện có hiệu quả theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay 100% đơn vị cấp xã, cấp huyện, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, 03 đơn vị sự nghiệp công lập (Ban Quản lý Dự án cải cách hành chính tỉnh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh), 05 cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn (Kho bạc, Cục Thuế, Công an, Chi cục Hải quan, Bảo hiểm xã hội tỉnh) đã thực hiện cơ chế một cửa. Mô hình một cửa liên thông hiện đại đã được mở rộng thực hiện tại 06/08 đơn vị cấp huyện. Một số lĩnh vực công việc liên quan nhiều đến tổ chức, công dân đã được triển khai theo cơ chế một cửa liên thông như: hộ tịch, đăng ký kinh doanh, lao động, người có công và xã hội.

Qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông, các quy định về thủ tục hành chính được công khai, minh bạch, giảm phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân; trách nhiệm của cán bộ, công chức được nâng cao; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính trong giải quyết công việc của tổ chức, công dân; góp phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và người dân theo hướng phục vụ dân.

1.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cải cách thể chế ở tỉnh trong những năm qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế và bất cập. Tình trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền chưa được khắc phục triệt để, còn một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có nội dung trái hoặc không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nội dung văn bản quy định mâu thuẫn, chồng chéo, sao chép lại các quy định tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, sử dụng không đúng căn cứ pháp lý và còn sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày. Một vài cơ quan, đơn vị việc thực hiện cơ chế một cửa còn tình trạng công khai chưa đầy đủ các thủ tục hành chính, biểu mẫu hồ sơ, thời gian giải quyết, phí và lệ phí, khiến tổ chức, công dân khó khăn khi liên hệ, giải quyết công việc. Một số lĩnh vực thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho cán bộ, công chức trong giải quyết công việc và phiền hà cho tổ chức, công dân...

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chưa tự nghiên cứu kỹ và chưa được bồi dưỡng về công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, mục đích của cơ chế một cửa trong giải quyết công việc của tổ chức, công dân.

2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính

2.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Cải cách tổ chức bộ máy hành chính là một nội dung trọng tâm trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, đã được tỉnh triển khai tích cực và đạt được những kết quả khả quan.

Quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của từng cơ quan trong hệ thống hành chính từ cấp tỉnh đến cơ sở đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành kịp thời, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ; đã chuyển một số công việc và dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp đảm nhận, điển hình như việc thành lập 02 văn phòng công chứng tư. Các văn phòng công chứng tư ngoài nỗ lực trong việc áp dụng mức phí công chứng phù hợp với quy định, còn đưa ra những dịch vụ để hỗ trợ khách hàng như: công chứng tại nhà, công chứng ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ, đáp ứng tốt nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân trong tỉnh, bảo đảm độ an toàn pháp lý cao trong giao dịch. 

Phân cấp quản lý nhà nước giữa các cấp chính quyền địa phương được tăng cường, tập trung vào các lĩnh vực như: quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển, thu chi ngân sách, nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách giữa các cấp ngân sách ở địa phương, doanh nghiệp nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công, tổ chức, bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức.

Tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương được đổi mới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở Trung ương và điều kiện cụ thể của địa phương. 10 năm qua, các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện đã qua 03 lần sắp xếp. Thực hiện Nghị định 13, 14 /2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ, từ năm 2009 tỉnh đã bố trí 17 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, 12 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.

 2.2.  Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Tổ chức bộ máy hành chính có nhiều thay đổi, không ổn định, số lượng cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện đã giảm so với trước đây, nhưng số đơn vị trực thuộc không giảm, cá biệt có lĩnh vực tăng, do đó ít nhiều gây khó khăn về sắp xếp tổ chức, cán bộ cũng như tăng nhu cầu biên chế. Việc thực hiện phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn bất cập trong thực hiện nhiệm vụ cũng như công tác quản lý.

Nguyên nhân là do các văn bản của các cơ quan Trung ương quy định về tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn ở địa phương còn chưa nhất quán tinh thần cải cách hành chính nhà nước đã đề ra tại Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. Một số cơ quan, đơn vị thực hiện một số nhiệm vụ được phân cấp còn lúng túng và sai sót (công tác thi tuyển, xét tuyển viên chức, bổ nhiệm và giải quyết chế độ chính sách cho công chức, viên chức trong đơn vị).

3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

3.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Công tác xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được đổi mới theo hướng rõ hơn về trách nhiệm, thẩm quyền, tăng cường phân cấp cho các cơ quan, đơn vị, địa phương về tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt, thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công được nâng cao phù hợp với các cơ chế đã có về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003, việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức có sự thay đổi cơ bản, công chức hành chính bắt buộc qua thi tuyển với 03 môn (hành chính, tin học, ngoại ngữ), còn viên chức sự nghiệp được áp dụng cả 2 hình thức là thi tuyển và xét tuyển hoặc vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc; việc tuyển dụng viên chức được UBND tỉnh phân cấp cho các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và UBND cấp huyện từ năm 2004 theo Quyết định số 901/2005/QĐ-UB ngày 20/5/2005 của UBND tỉnh. Đến năm 2008 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1248/2008/QĐ-UBND ngày 25/6/2008 về phân công, phân cấp quản lý tổ chức, cán bộ, công chức và viên chức; việc tuyển dụng viên chức được phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp sử dụng viên chức tổ chức thực hiện. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo đúng quy định. Chọn cử cán bộ, công chức đủ tiêu chuẩn, điều kiện dự thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính, chuyên viên chính lên chuyên viên cao cấp, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, tiêu chuẩn ngạch với đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí công việc của cán bộ, công chức, viên chức đang đảm nhận, qua đó tạo ra sự thay đổi tích cực góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Để tạo điều kiện và động viên đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia học tập nâng cao trình độ, tỉnh đã ban hành các chính sách: Quyết định số 2645/2007/QĐ-UBND ngày 16/11/2007 ban hành Quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Quyết định số 2171/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 ban hành Đề án đào tạo sau đại học cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và đối tượng dự nguồn; Quyết định 2196/2008/QĐ-UBND ngày 03/12/2008 về việc Quy định chế độ hỗ trợ một lần cho cán bộ, công chức, viên chức nữ đi học. Kết quả từ năm 2001 đến nay đã đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho 62.054 lượt người, trong đó có 23.772 lượt cán bộ, công chức hành chính, 7.665 lượt viên chức, 30.617 lượt cán bộ, công chức cấp xã. Ngoài ra còn nhiều ngàn lượt viên chức được các cơ quan, đơn vị cử đi đào tạo bồi dưỡng theo phân cấp bằng nhiều nguồn kinh phí.

Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ công chức cấp xã hiện có, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách thu hút công chức, viên chức như:

- Về thu hút công chức, viên chức cho cấp tỉnh, cấp huyện: Đã ban hành Quyết định số 324/2003/QĐ-UB ngày 04/3/ 2003 ban hành Quy định về chính sách khuyến khích tài năng, đào tạo và thu hút cán bộ, công chức có trình độ cao; kết quả từ khi có chính sách thu hút đến nay, tỉnh đã thu hút được 161 sinh viên tốt nghiệp Đại học chính quy loại giỏi; 73 sinh viên tốt nghiệp Đại học chính quy loại khá phấn đấu tốt được kết nạp Đảng trong trường Đại học; 59 người có trình độ Thạc sỹ .

- Về thu hút công chức cấp xã: Đã ban hành Quyết định số 1655/2005/QĐ-UB ngày 27/5/2005 ban hành chính sách thu hút những người có chuyên môn phù hợp về công tác tại xã, phường, thị trấn. Thực hiện Quyết định này từ năm 2005 đến 2007 tỉnh đã thu hút được 84 người có trình độ cao đẳng, đại học về công tác tại xã, phường, thị trấn (đại học: 49 người, cao đẳng: 35). Năm 2007, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2172/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 về việc thu hút những người đã tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên về công tác tại xã, phường, thị trấn, chính sách đối với cán bộ luân chuyển, cán bộ điều động, tăng cường về công tác tại xã, phường, thị trấn và chính sách đối với cán bộ, chuyên trách cấp xã do yêu cầu phải bố trí sắp xếp lại. Kết quả từ năm 2007 đến nay tỉnh đã thu hút được 392 người tốt nghiệp cao đẳng, đại học về làm công chức dự bị cấp xã (đại học: 254 người; cao đẳng: 138 người).

Để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ, tỉnh luôn quan tâm, chú trọng đến công tác quy hoạch cán bộ theo giai đoạn và hàng năm. Năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch cán bộ  lãnh đạo diện UBND tỉnh quản lý giai đoạn 2010-2015 gồm 113 người.

3.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các khoá đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung kiến thức, kỹ năng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ, công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn thấp. Chính sách, chế độ tiền lương 10 năm qua tuy đã được cải cách nhưng chưa đảm bảo cuộc sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Nguyên nhân của tồn tại trên là do tinh thần, thái độ, tác phong trong thực thi nhiệm vụ, công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa tốt. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức còn nặng tính lý thuyết, chưa chú trọng đến kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Quy định về ngạch, bậc, mức lương tối thiểu, phụ cấp chức vụ, phụ cấp nghề còn nhiều bất cập. Chính sách thu hút cán bộ tuy đã được tỉnh hết sức quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất và điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến cho người được thu hút, song do điều kiện làm việc chưa đủ để đáp ứng cho công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học, địa bàn tỉnh lại gần Thủ đô Hà Nội vì vậy trong thời gian qua tỉnh chưa thu hút được những người có trình độ cao như Tiến sỹ, Phó Giáo sư, Giáo sư, những người có tài năng và cống hiến đã được khẳng định ở các cơ quan, địa phương khác.

 4. Cải cách tài chính công

4.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, HĐND, UBND tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản tăng cường quản lý các khoản thu như: quy định về các khoản thu phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh, quy định thu các khoản phục vụ các kỳ thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh, quy định tỷ lệ phân bổ, mức chi, quản lý và sử dụng tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa trên địa bàn tỉnh ..., đồng thời có quy định cụ thể về chế độ, định mức chi tiêu, điển hình là các chế độ phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách cấp xã, chính sách đối với giáo viên mầm non ngoài biên chế, chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động của các Trung tâm Học tập cộng đồng cấp xã, chính sách đối với cán bộ luân chuyển từ tỉnh về huyện, thị xã, thành phố và từ huyện, thị xã, thành phố này sang huyện, thị xã, thành phố khác, chính sách về quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ở địa phương ... Cơ chế quản lý tài chính, ngân sách có những đổi mới về phân cấp ngân sách theo hướng tăng tính chủ động, tăng thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Việc phân cấp nguồn thu đã có sự điều chỉnh theo hướng mở rộng phân cấp một số khoản thu cho ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã nhằm tăng cường nguồn lực tài chính cho ngân sách cấp dưới, tạo sự chủ động và khuyến khích chính quyền cấp huyện, cấp xã quản lý, khai thác nguồn thu gắn với nuôi dưỡng nguồn thu. Nhiệm vụ chi được quy định rõ cho từng cấp ngân sách ở địa phương, trong đó chi đầu tư phát triển luôn là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong bố trí ngân sách Nhà nước, tốc độ tăng chi đầu tư phát triển bình quân trên 42%/năm, cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên 25%/năm, đã tập trung đầu tư phát triển các hệ thống giao thông, thủy lợi quan trọng, nhất là hệ thống đường giao thông nông thôn, để thúc đẩy lưu thông hàng hoá; đầu tư các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: trường học, bệnh viện, cơ sở văn hoá thể thao; đầu tư thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hạ tầng vùng khó khăn...

Cơ chế tài chính cho các loại hình tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước đã bước đầu được đổi mới, với những kết quả tích cực trong triển khai Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 24/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Đến nay đã có 112/148 cơ quan hành chính đã triển khai chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đạt tỷ lệ 75,7%; 402/435 đơn vị sự nghiệp công lập đã thực hiện quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đạt tỷ lệ 92,4%.

Qua thực hiện cơ chế tự chủ, hoạt động tài chính đi vào nề nếp, các cơ quan, đơn vị thực hiện công khai tài chính theo đúng quy định, chủ động hơn về kinh phí, tổ chức, sắp xếp bộ máy, bố trí lao động hợp lý, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời đã tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia giám sát quá trình thực hiện cơ chế khoán theo đề án đã được duyệt, thúc đẩy sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả thông qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng tiêu chuẩn định mức chi của cơ quan, đồng thời tiết kiệm, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức, điển hình như: Sở Giao thông, Vận tải, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi cục Phát triển nông thôn...

4.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp huyện chưa thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định; quy chế chi tiêu nội bộ của một vài cơ quan, đơn vị chưa chi tiết, còn hình thức.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do nhận thức chưa đầy đủ của một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương về thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, vẫn còn tư tưởng dựa vào bao cấp kinh phí; kinh phí chi thường xuyên thấp so với yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn; các quy định của Nhà nước về chế độ tài chính chậm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế...

 5. Về hiện đại hoá nền hành chính nhà nước

5.1. Những kết quả chủ yếu đạt được

Thực hiện Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cần làm ngay để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính và nâng cao chất lượng giải quyết công việc của tổ chức, công dân, cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương đã chấp hành và tổ chức thực hiện nghiêm chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; đeo thẻ công chức trong khi làm nhiệm vụ, sử dụng hiệu quả và thực hiện nghiêm túc quy định về thời gian làm việc; trách nhiệm trong công việc, đoàn kết phối hợp với đồng nghiệp; tôn trọng, niềm nở, tận tình, lịch sự, nhiệt tình đối với nhân dân, không đùn đẩy né tránh, không để hồ sơ trễ hẹn. Nhiều cơ quan, đơn vị đã xây dựng Quy tắc ứng xử và hình thành lề lối làm việc có nề nếp, trật tự ở ngay tại cơ quan mình thể hiện nếp sống văn minh công sở...tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong lề lối làm việc ở các cơ quan hành chính, sự nghiệp.

Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh, của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố được thường xuyên rà soát, sửa đổi bổ sung, đã định rõ các vấn đề như trách nhiệm của tập thể, cá nhân người đứng đầu các cơ quan, chế độ giải quyết công việc, thẩm quyền ký văn bản, chế độ hội họp, đi công tác, cơ chế phối hợp công tác. Quy trình tiếp nhận, xử lý và ban hành văn bản được cải tiến một cách hợp lý và khoa học gắn với việc ứng dụng công nghệ thông tin, việc in ấn, sao chụp phát hành các loại văn bản giấy tờ hành chính theo tinh thần triệt để, tiết kiệm chống lãng phí, những giấy tờ cần thiết cho việc giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức được quy định rõ ràng, cụ thể, công khai hoá, loại bỏ các giấy tờ không thật cần thiết. Các cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch tổ chức hội họp phù hợp với chương trình công tác tháng, quý, năm bảo đảm tính khoa học, hợp lý, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành và khả năng thực tế của cơ quan, không gây chậm trễ, khó khăn, phiền hà cho việc tiếp nhận và xử lý công việc có liên quan đến cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Điều kiện làm việc của cán bộ, công chức tiếp tục được cải thiện, các cơ quan, công sở được xây dựng, cải tạo, nâng cấp trụ sở và được trang thiết bị máy móc, phương tiện làm việc tốt hơn. Hiện nay trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện được đầu tư xây dựng khang trang, kiên cố; ở cấp xã có 140/146 UBND cấp xã, đạt tỷ lệ 95,9% trụ sở làm việc cấp xã được xây dựng kiên cố, chỉ còn 06/146 UBND cấp xã, đạt tỷ lệ 4,1% chưa có trụ sở làm việc kiên cố. 

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin được quan tâm đầu tư về con người, cơ sở hạ tầng, phương tiện kỹ thuật tin học nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, có tác động tích cực đến lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, công chức, nâng cao năng lực quản lý điều hành, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Kết quả, năm 2009 đã triển khai xây dựng xong phòng họp giao ban trực tuyến tại Văn phòng UBND tỉnh, tổ chức các cuộc họp trực tuyến giữa lãnh đạo UBND tỉnh với Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương. 70,7% số cán bộ, công chức toàn tỉnh có máy vi tính; 100% cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện đã lắp đặt mạng Lan, mạng Internet; 76% cán bộ, công chức cấp tỉnh, 62% cấp huyện sử dụng thư điện tử để trao đổi, xử lý công việc. Ngoài ra, một số cơ quan đã xây dựng website độc lập để trao đổi thông tin và tạo điều kiện cho tổ chức, công dân liên hệ giải quyết công việc như: Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương, Sở Tư pháp, Liên minh Hợp tác xã tỉnh. 

 Cùng với ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO: 9000-2008 đã được triển khai áp dụng có hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, tạo phương pháp làm việc khoa học, hợp lý. Tính đến nay đã có 12 cơ quan hành chính triển khai thực hiện, trong đó 06 cơ quan được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn (Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư và UBND thành phố Ninh Bình), 06 cơ quan đang triển khai xây dựng áp dụng (Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Văn phòng UBND tỉnh, Chi cục Tiêu chuẩn đo lường, chất lượng và UBND thị xã Tam Điệp).

5.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Một số công chức, viên chức trong quá trình giải quyết công việc còn có  hành vi ứng xử chưa tốt đối với tổ chức công dân.

- Một số xã thiếu trang thiết bị, chưa bảo đảm điều kiện làm việc.

- Vẫn còn tình trạng hội họp nhiều, giấy tờ hành chính gia tăng, ít nhiều gây lãng phí về kinh phí, thời gian.

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đến kỷ cương hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý, giải quyết công việc tuy đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ theo tinh thần cải cách hành chính.

                     (Có các Phụ lục 1,2,3,4,5 kèm theo)

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 10 NĂM QUA

1. Những kết quả tích cực đã đạt được

10 năm qua, cải cách hành chính ở tỉnh đã được triển khai toàn diện trên các nội dung là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hoá nền hành chính, tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận của nền hành chính. Có thể khẳng định những kết quả chủ yếu trong cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 như sau:

- Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính được các cấp, các ngành ở tỉnh quan tâm triển khai thực hiện với nhiều hình thức như: xây dựng kế hoạch cải cách hành chính hằng năm, giai đoạn, tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt, sơ kết, tổng kết, thông tin, truyên truyền trên báo, đài...

- Thể chế kinh tế, hành chính được hoàn thiện một bước, cơ bản phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

- Nhiều quy trình, thủ tục hành chính đã được rà soát, đơn giản và công khai hóa, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, hạn chế phiền hà, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc giao dịch hành chính đối với các cơ quan nhà nước.

 - Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân, doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể, nền hành chính chuyển theo hướng phục vụ nhân dân thông qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

- Bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương đã được sắp xếp, giảm đầu mối quản lý, khắc phục một bước tình trạng chồng chéo về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ; hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước được nâng lên đáng kể.

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được tỉnh quan tâm từ khâu tuyển dụng, tiếp nhận (trong đó đặc biệt quan tâm thu hút  và hỗ trợ những người có tài năng và có trình độ cao), sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm.

- Tinh thần, thái độ, tác phong làm việc của cán bộ, công chức có bước chuyển đáng kể, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng lên.

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2008 trong quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân ở các sở, ban, ngành, UBND huyện, thị xã, thành phố bước đầu có kết quả và phát huy được tác dụng tích cực.

2. Những tồn tại, hạn chế

- Quy trình, thủ tục hành chính tuy đã được rà soát, điều chỉnh, nhưng vẫn còn rườm rà. Sự phối hợp giữa các cơ quan trong giải quyết công việc ở một số lĩnh vực liên quan đến thẩm quyền của nhiều ngành, nhiều cấp còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ. Các lĩnh vực công việc được thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông chưa nhiều.

- Số lượng cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện đã giảm so với trước đây, nhưng số đơn vị trực thuộc chưa giảm. Một bộ phận cán bộ, công chức còn bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu kỹ năng hành chính, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gây ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ.

- Chính sách, chế độ tiền lương tuy đã được cải cách nhưng chưa đảm bảo cuộc sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

- Việc hiện đại hoá công sở và ứng dụng công nghệ thông tin tại nhiều cơ quan hành chính chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi trong tình hình mới.

3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

- Thứ nhất, nhận thức về cải cách hành chính của một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị còn hạn chế.

- Thứ hai, cải cách hành chính là vấn đề khó, cần có lộ trình, bước đi phù hợp.

- Thứ ba, nhiều cơ quan, đơn vị chưa tập trung đầu tư, bố trí nguồn ngân sách phục vụ cho công tác cải cách hành chính.

- Thứ tư, các thể chế của bộ, ngành Trung ương có nhiều thay đổi, ban hành chưa sát với tình hình thực tiễn của địa phương.

- Thứ năm, nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập, chồng chéo, trùng lắp, chưa chú ý đào tạo theo chức danh, nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn nặng lý thuyết, thiếu thực hành.

 

4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra sau 10 năm thực hiện

Từ những kết quả và hạn chế qua 10 năm thực hiện cải cách hành chính ở tỉnh có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

- Thứ nhất, phải có sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, đây là nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình cải cách hành chính ở tỉnh Ninh Bình. Mọi chủ trương, đường lối về cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước đều được các cấp ủy Đảng trong tỉnh quán triệt kịp thời và đầy đủ, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của tỉnh; thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, đi tiên phong trong cải cách hành chính. Do đó, đã tạo được những mô hình cải cách hành chính có hiệu quả, được các địa phương trong cả nước học tập, vận dụng.

- Thứ hai, đổi mới, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, của chính quyền các cấp về cải cách hành chính, đặc biệt là nhận thức, quyết tâm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương, luôn coi cải cách hành chính là khâu đột phá, mở đường cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội; phải tôn trọng và coi những đối tượng sử dụng các dịch vụ do cơ quan hành chính cung ứng là “khách hàng” thực sự, do đó các hoạt động cung ứng dịch vụ công cần được bảo đảm để đáp ứng nhu cầu của “khách hàng”.

- Thứ ba, trong quá trình cải cách hành chính phải có những bước đi thích hợp, với những đột phá mới trong lĩnh vực mà tổ chức và công dân đang có nhu cầu bức xúc.

- Thứ tư, để thực hiện có kết quả công cuộc cải cách hành chính, yếu tố quan trọng hàng đầu chính là tổ chức bộ máy và cán bộ công chức, do đó hệ thống bộ máy hành chính phải được tổ chức, sắp xếp hợp lý, gọn nhẹ, cán bộ công chức cần được quan tâm từ khâu tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, bổ nhiệm và đào tạo, cần quan tâm làm tốt công tác giáo dục để có đội ngũ công chức thật sự tâm huyết với công việc. Chính sách, chế độ tiền lương phải được quan tâm hơn để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo cuộc sống, toàn tâm, toàn ý thực hiện nhiệm vụ.

- Thứ năm, đẩy mạnh phân công, phân cấp theo nguyên tắc việc gì mà cấp nào, ngành nào làm tốt thì cấp trên phân cấp hoặc uỷ quyền cho cấp đó, ngành đó làm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phải có sự đồng bộ cả về nhiệm vụ, thẩm quyền, nguồn lực và các điều kiện cần thiết để đơn vị nhận phân cấp chủ động tổ chức thực hiện, mặt khác phải phân định thật cụ thể chức năng, nhiệm vụ giữa các ngành, các cấp tránh chồng chéo hoặc bỏ sót việc, đồng thời cũng cần xác định rõ mối quan hệ trách nhiệm giữa các ngành, các cấp sau phân cấp, để tạo sự phối hợp đồng bộ liên thông trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.

- Thứ sáu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và phục vụ nhân dân, bảo đảm tính hệ thống, thông suốt, chính xác, rõ ràng minh bạch từ các hệ thống thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước.

5. Những vấn đề cần tiếp tục cải cách trong thời gian tới

- Các thủ tục, quy trình hành chính liên quan đến công dân và doanh nghiệp phải được các sở ngành, UBND các cấp tiếp tục rà soát, hoàn thiện, chuẩn hóa, mẫu hoá, công bố công khai để thống nhất thực hiện.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận một cửa, mở rộng lĩnh vực thực hiện theo cơ chế một của liên thông; mở rộng và nâng cao việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 gắn với ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ; có chính sách thu hút, tuyển dụng, lương, thưởng hợp lý, khuyến khích được người giỏi, động viên được mọi nguồn nhân lực.

- Tiếp tục sắp xếp bộ máy hành chính cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của Chính phủ và phù hợp với thực tiễn của tỉnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng kịp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo hướng tập trung đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giải quyết công việc gắn với chức trách, nhiệm vụ đang đảm nhận. Đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng.

 

Phần thứ hai

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH

HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011-2020

 

 

1. Nội dung cải cách hành chính

Qua 10 năm triển khai thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước ở địa phương, tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng nội dung vẫn còn dàn trải; để chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2010-2020 đạt được kết quả cao hơn, nên tập trung vào 4 nội dung trọng tâm sau: Cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách công vụ, công chức và chính phủ điện tử. 

2. Mục tiêu, kết quả dự kiến của Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

2.1. Mục tiêu chung

Xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

 

2.2. Các mục tiêu cụ thể

a) Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chính đáng của người dân.

b) Tiếp tục rà soát làm rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, xác định tổ chức bộ máy, biên chế, cơ cấu cán bộ, công chức của cơ quan, đơn vị hợp lý, khoa học bảo đảm tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. 

c) Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại.

d) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.

đ) Tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ ở các cấp, kể cả trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

3. Kết quả, sản phẩm của Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 (Có phụ lục cụ thể kèm theo)

4. Các giải pháp bảo đảm thực hiện Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

4.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác cải cách hành chính, đề cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Tỉnh uỷ quyết định các chủ trương, giải pháp, kế hoạch lớn về cải cách hành chính, đồng thời tăng cường công tác lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn kịp thời việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh uỷ về công tác cải cách hành chính ở tỉnh. Các cấp uỷ Đảng tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức và thống nhất hành động trong tổ chức, cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ cải cách hành chính, lãnh đạo cơ quan, chính quyền cùng cấp xây dựng đề án, kế hoạch cụ thể, thông qua kết quả cải cách hành chính để xem xét, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức.

4.2. Nâng cao năng lực tham mưu của các cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác cải cách hành chính trên điạ bàn.

4.3. Đầu tư nguồn nhân lực và tài chính cho công tác cải cách hành chính. Kinh phí dành cho thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính được cấp từ ngân sách nhà nước trên cơ sở dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan, đơn vị, địa phương. Huy động, bố trí cán bộ, công chức có năng lực, trình độ để thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính.

          4.4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị, địa phương, phát hiện và có biện pháp xử lý đối với cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các nhiệm vụ cải cách hành chính đã đề ra trong Chương trình cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2011-2020.

4.5. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để mọi cán bộ, công chức và người dân hiểu, nắm được nội dung, ý nghĩa của Chương trình cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2011-2020 để từ đó tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính.

          5. Tổ chức thực hiện

          5.1. Các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố căn cứ nhiệm vụ quy định tại Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 của tỉnh xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính hàng năm; định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) kết quả hực hiện theo quy định.

          5.2. Sở Nội vụ giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi, định kỳ tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ Nội vụ.

          5.3. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ căn cứ các quy định hiện hành của Nhà nước tham mưu để UBND tỉnh ban hành quy định về quản lý, sử dụng kinh phí phục vụ công tác cải cách hành chính; hàng năm  hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương lập dự toán ngân sách  thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính.

5.4. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Ninh Bình, Đài Truyền thanh cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, nội dung Chương trình cải cách hành chính nhà nước của tỉnh giai đoạn 2011-2020.

 

Phần thứ ba

NHỮNG ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

 

1. Về sửa đổi, bổ sung các quy định, chế độ, chính sách của Nhà nước:

- Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương xác định rõ loại hình, quy mô của đơn vị sự nghiệp để giao quyền tự chủ, vì hiện nay  bên cạnh một số đơn vị sự nghiệp có chức năng, nhiệm vụ ổn định và tương đối rõ ràng, có những đơn vị sự nghiệp thường xuyên thay đổi về quy mô (như các trường Mầm non, các trường Tiểu học, các trường Trung học cơ sở, các trường Trung học phổ thông … quy mô trường lớp biến động theo từng năm học) nên việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí còn gặp khó khăn nhất là khi quy mô trường lớp giảm, định mức biên chế giảm nhưng thực tế không giảm được con người hiện đang làm việc trong tổ chức đó. 

- Đề nghị các Bộ, ngành Trung ương ban hành văn bản quy định rõ nội dung chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch viên chức dự thi, quy mô và điều kiện về đội ngũ cần có của đơn vị sự nghiệp đủ điều kiện tổ chức kỳ thi làm cơ sở để các đơn vị sự nghiệp căn cứ thực hiện và thuận lợi trong biên soạn tài liệu ôn tập, tổ chức việc ôn tập, ra đề thi tuyển viên chức.

- Đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ nghiên cứu, sửa đổi Thông tư liên tịch số 101/2003/TTLT/BTC-BNV ngày 29/10/2003 quy định về chế độ thu và quản lý, sử dụng phí dự thi tuyển công chức và thi nâng ngạch cán bộ, công chức, vì mức thu phí dự tuyển theo quy định hiện nay là quá thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

- Đề nghị Chính phủ ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ, vì hiện nay khái niệm, các yếu tố nhận biết văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy định tại Nghị định là chưa rõ ràng, dẫn đến có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau trong việc xác định một văn bản quy phạm pháp luật.

          2. Về kinh phí phục vụ cho công tác cải cách hành chính: Đề nghị Chính phủ nghiên cứu, ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về công tác cải cách hành chính, hỗ trợ cho các địa phương khó khăn về nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính trong giai đoạn 2011-2020.

3. Về biện pháp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương:

- Đề nghị tiếp tục duy trì tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính nhà nước ở các cấp để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính trong giai đoạn 2011-2020.

- Đề nghị bố trí công chức chuyên trách làm công tác cải cách hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

UBND tỉnh Ninh Bình trân trọng báo cáo Bộ Nội vụ./.

 

 

 

Nơi nhận:

- Bộ Nội vụ;

- Vụ Cải cách hành chính (Bộ Nội vụ);

- Thường trực Tỉnh uỷ;

- Thường trực HĐND tỉnh;

- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;

- Các sở, ban, ngành;

- UBND các huyện, thị xã, thành phố;

- Lưu: VT, VP2, VP7.

   NV.04

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

(Đã ký)

 

 

 Trần Hữu Bình

 

Tài liệu kèm theo:

- Kết quả Sản phẩm chương trình cải cách hành chính tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2011.